- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "cao trung t"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận anh Cao Trung T và chị Lê Hồng T1 là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 474/2022/HNGĐ-ST Ngày 08-12-2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thắng
2. Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường- Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 674/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 473/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Trung T, sinh năm 1987 (có mặt).
- Bị đơn: Chị Lê Hồng T1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 26/10/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Cao Trung T trình bày: Về hôn nhân: Anh và chị Lê Hồng T1 chung sống với nhau từ năm 2004, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống hạnh phúc. Thời gian về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải với nhau, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, anh và chị T1 đã sống ly thân hơn 02 tháng nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị T1.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị T1 có 02 người con chung tên Cao Lê Hồng Y, sinh ngày 19/10/2005 và Cao Quốc N, sinh ngày 21/5/2009. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi các con. Không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Lê Hồng T1: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng chị T1 vẫn vắng mặt không lý do; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Lê Hồng T1 có nơi cư trú tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Cao Trung T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Lê Hồng T1 tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Anh T là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh T là nguyên đơn, chị T1 là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Anh T có mặt, chị T1 vắng mặt. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Trung T và chị Lê Hồng T1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện. Tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng anh và chị không đăng ký kết hôn theo luật định. Anh T và chị T1 không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, anh và chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh và chị đã sống ly thân hơn 02 tháng nay. Xét, mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 là thực tế có xảy ra; đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp.
Về con chung: Anh Tính và chị Tươi có 02 người con chung tên Cao Lê Hồng Y, sinh ngày 19/10/2005 và Cao Quốc N, sinh ngày 21/5/2009. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi các con. Xét, con chung tên Cao Lê Hồng Y và Cao Quốc N. Hiện nay các cháu đang sống chung với anh T. Từ khi anh và chị Tươi s ly thân đến nay các cháu sống cùng với anh, gần gũi với anh, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Tiếp tục giao các cháu Cao Lê Hồng Y và Cao Quốc N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với ước nguyện của cháu Y, cháu N tại biên bản ghi ý kiến ngày 02/11/2022). Chị T1 không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Anh T không đặc ra, chị T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Anh T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh T phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 81 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận anh Cao Trung T và chị Lê Hồng T1 là vợ chồng.
- Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Cao Lê Hồng Y, sinh ngày 19/10/2005 (Giới tính: Nữ) và Cao Quốc N, sinh ngày 21/5/2009 (Giới tính: Nam) cho anh Cao Trung T được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Hồng T1 không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Anh Cao Trung T phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 28/10/2022 anh T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005615 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |