vanban.org

Bản án 474/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Lưu Kim P và ị cáo Lê Văn T;

Sửa Bản án h nh sự s thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Bị cáo Lưu Kim P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Kim P và Lê Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Lưu Kim P và ị cáo Lê Văn T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật H nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 474/2021/HS-PT
Ngày: 25-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Tấn Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 474/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 đối với các ị cáo Lưu Kim P và Lê Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án h nh sự s thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Lưu Kim P (tên gọi khác: E), sinh năm 1990; tại tỉnh Phú Yên.N i cư trú: Phú Yên; nghề nghiệp: Không; tr nh độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Kim H (chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1949; có vợ Dư ng Thị P, sinh năm 1986 và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:+ Bản án hình sự s thẩm số 20/2013/HS-ST ngày 08/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam đã áp dụng Điểm e, Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Lưu Kim P 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/11/2014.+ Ngày 09/10/2014, bị Công an tỉnh B nh Định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/12/2015 được đ nh chỉ điều tra bị can vì hết thời hạn điều tra nhưng không chứng minh bị can phạm tội theo quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.+ Bản án hình sự phúc thẩm số 27/2017/HSPT ngày 25/7/2017của Tòa án nhân dân tỉnh B nh Định đã áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 12/8/2018; tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020 được trả tự do; tạm giam từ ngày 03/5/2021, có mặt.

2. Lê Văn T, sinh năm 1978; tại tỉnh Phú Yên. N i cư trú: tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; tr nh độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951; có vợ Lưu Kim T, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: + Bản án hình sự s thẩm số 43/2008/HSST ngày 14/3/2008 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Lê Văn T 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.+ Bản án hình sự phúc thẩm số 27/2017/HSST ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh B nh Định đã áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Lê Văn T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 12/12/2017; tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020 được trả tự do; tạm giam từ ngày 01/3/2021, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lưu Kim P, Lê Văn T: Luật sư Nguyễn Tâm H – Văn phòng Luật sư H, Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên; địa chỉ: tỉnh Phú Yên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/10/2020, Lưu Kim P điều khiển xe mô tô 78F1- 41028 chở Lê Văn T đem theo tuốc n vít, đèn pin, khẩu trang, găng tay, ná cao su…đi từ huyện T đến huyện Đ, tỉnh Phú Yên thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 15/10/2020, bà Huỳnh Thị Thanh X ở thôn P, xã X Quang 3, huyện Đồng X đi làm về phát hiện cửa nhà và của phòng ngủ bị cạy phá, đồ đạc và vật dụng trong phòng xáo trộn. Bà X kiểm tra phát hiện bị mấtcác tài sản gồm: 200.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng tây, trên nhẫn có gắn 01 viên đá màu đỏ; 01 sợi dây chuyền vàng tây loại mắt xích, mặt dây chuyền hình tròn có in chữ “T” hoa; 01 đôi ông tai vàng tây; 01 đôi ông tai loại vàng Ý; 01 chiếc lắc vàng loại nhỏ; 01 chiếc nhẫn vàng tây có mặt hình trái tim và 01 chiếc nhẫn vàng y có trọng lượng 0,5 chỉ.

Vụ thứ 2: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 15/10/2020, à Dư ng Thị H ở huyện Đồng X đi đón con về phát hiện song sắt cửa sổ phía sau nhà bị bẻ gãy, đồ đạc và vật dụng bên trong phòng ngủ bị xáo trộn, bà H kiểm tra phát hiện bị mất 6.900.000 đồng; 02 chiếc nhẫn vàng y mỗi chiếc có trọng lượng 01 chỉ.

Vụ thứ 3: Ngày 14/10/2020, Võ Thị Bạch Y ở thị trấn L, huyện Đồng X kiểm tra tài sản gồm tiền, vàng cất trongmột phòng ngủ của gia đ nh vẫn còn nguyên, đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/10/2020, bà Y vào phòng kiểm tra phát hiện đồ đạc và vật dụng trong phòng bị xáo trộn và bị mất số tiền 27.000.000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng y có trọng lượng 5,5 chỉ.

Ngày 15/10/2020 khi phát hiện mất tài sản, bà Huỳnh Thị Thanh X và Dư ng Thị H đã gửi đ n áo cáo đến Công an huyện Đồng X. Ngày 20/10/2020, bà Y có đ n áo cáo đến Công an huyện Đồng X.

Sau khi tiếp nhận đ n tố giác của bà X, bà H; ngày 15/10/2020, c quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng X tiến hành khám nghiệm hiện trường, truy bắt đối tượng, đến 11 giờ cùng ngày phát hiện Lưu Kim P và Lê Văn T tại xã X Lãnh, huyện Đồng X, tỉnh Phú Yên nên đưa về Công an huyện Đồng X, lập biên bản thu giữ trên người của P và T tài sản của bà X, bà H, bà Y bị mất trộm gồm tiền 23.961.500 đồng; 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng dập ký hiệu K.OANH, có mặt đá màu xanh; 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng kim loại màu vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng hiệu Tân Hiệp, có dập chìm số 0,5 chỉ; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng có dập chìm chữ 18K có gắn hột màu đỏ; 01 đôi ông tai kim loại màu vàng trên mỗi bông tai có gắn viên kim loại màu vàng và một sợi dây kim loại màu vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt nhẫn hình trái tim có gắn hột màu trắng; 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, có khắc chữ “T”; 01 đôi ông tai kim loại màu vàng; 02 tờ tiền USD mỗi tờ mệnh giá 01 USD và một số đồ vật khác.

- Kết luận định giá tài sản số 11/ĐGTS-TTHS ngày 07/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đồng X kết luận, tổng giá trị vàng; bạc thu giữ trên người Lưu Kim P và Lê Văn T là 57.709.600 đồng.

- Kết luận giám định số 1231/C09C-Đ3 ngày 27/11/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Các sợi vải màu xanh đen thu giữ tại nhà Dư ng Thị H và Huỳnh Thị Thanh X khi khám nghiệm hiện trường cùng loại với s sợi được dệt trên 02 đôi găng tay thu giữ trên người Lưu Kim P và Lê Văn T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 01/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Lưu Kim P, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng Điểm c, Khoản 2 Điều 173; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt:

- Bị cáo Lưu Kim P – 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2021, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020.

- Bị cáo Lê Văn T – 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2021, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020.

Ngoài ra, ản án s thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Kháng cáo:

Ngày 08/9/2021, ị cáo Lưu Kim P nộp đ n kháng cáo ản án s thẩm, xin giảm nhẹ h nh phạt.

Ngày 08/9/2021, ị cáo Lê Văn T nộp đ n kháng cáo ản án s thẩm, xin giảm nhẹ h nh phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện i m sát nh n d n c p cao tại Đà N ng phát bi u:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo Lưu Kim P và Lê Văn T nhận tội, gia đ nh các ị cáo có nộp khắc phục hậu quả, ồi thường thiệt hại thêm số tiền 10.000.000đ. Xét đây là các t nh tiết giảm nhẹ qui định tại điểm , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mới phát sinh sau khi xét xử s thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và giảm cho các ị cáo một phần h nh phạt.

Lu t sư bào chữa cho bị cáo trình bày:

Trong quá trình điều tra, các ị cáo đã ra đầu thú; tại phiên tòa phúc thẩm các ị cáo khai nhận hành vi phạm tội và iết ăn năn hối cải; ngày 10/11/2021, gia đ nh các ị cáo có nộp thêm số tiền khắc phục hậu quả và án phí s thẩm là 10.400.000đ. Như vậy, ị cáo có các t nh tiết giảm nhẹ qui định tại điểm , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm cho các ị cáo một phần h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo Lưu Kim P và Lê Văn T

khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội. Lời khai của ị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các ị hại trong quá tr nh điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án; có đủ c sở kết luận: ngày 15/10/2020, tại xã X Quang 3 và thị trấn L, huyện Đồng X, tỉnh Phú Yên, các ị cáo Lưu Kim P và Lê Văn T đã lén lút vào nhà à Huỳnh Thị Thanh X, Dư ng Thị H và Võ Thị Bạch Y chiếm đoạt tài sản của các ị hại, tài sản chiếm đoạt thu giữ trên người các ị cáo gồm: tiền 23.961.500 đồng, vàng trị giá 57.709.600đồng; tổng giá trị 81.671.100 đồng.

Hành vi của các ị cáo Lưu Kim P và Lê Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật H nh sự như ản án s thẩm đã qui kết là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm h nh phạt của các ị cáo, thấy rằng:

Tòa án cấp s thẩm đã xét các ị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần ị kết án về tội trộm cắp tài sản, phạm tội với t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự từ 02 lần trở lên qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự và xử phạt các ị cáo 05 năm tù là tư ng xứng với tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các ị cáo thành khẩn khai áo, khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội; gia đ nh các ị cáo có nộp thêm số tiền khắc phục hậu quả, ồi thường thiệt hại là 10.00.000đ nên các ị cáo được hưởng các t nh tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ mới phát sinh sau khi xét xử s thẩm, nên có c sở chấp nhận kháng cáo của các ị cáo và quan điểm của Luật sư ào chữa, xét giảm cho các ị cáo một phần h nh phạt.

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự “Đầu thú”, ngày 01/3/2021 ị cáo Lê Văn T ra đầu thú, ngày 03/5/2021 ị cáo Lưu Kim P ra đầu thú; tuy nhiên các ị cáo không khai áo về hành vi phạm tội của m nh, nên Tòa án cấp s thẩm không áp dụng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự “Đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự là có căn cứ.

Theo tr nh ày của người ị hại, bà Dư ng Thị H còn thiệt hại 02 chỉ vàng y, bà Võ Thị Bạch Y còn thiệt hại 10.138.500đ; Tòa án cấp s thẩm tách các yêu cầu về ồi thường thiệt hại trên để giải quyết ở vụ án dân sự khác. Tuy nhiên, sau khi xét xử s thẩm các ị cáo có thiện chí nộp thêm số tiền 10.400.000đ để khắc phục hậu quả và nộp án phí h nh sự s thẩm tại iên lai thu tiền số 0000127 và số 0000128 cùng ngày 10/11/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên, nên cần tuyên trả cho cho à Dư ng Thị H, bà Võ Thị Bạch Y; mỗi người 5.000.000đ.

Đối với số tiền 23.961.500 đồng được nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0.9040469 của C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên ngày 26/02/2021, tiếp tục tuyên trả cho ị hại Huỳnh Thị Thanh X 200.000 đồng, Dư ng Thị H 6.900.000 đồng, Võ Thị Bạch Y 16.861.500 đồng.

Đối với các tài sản khác, C quan điều tra đã giao trả cho các người ị hại nên không cần thiết phải tuyên uộc các ị cáo ồi thường như quyết định của ản án s thẩm.

Các quyết định khác của ản án h nh sự s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự.

Chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Lưu Kim P và ị cáo Lê Văn T;

Sửa Bản án h nh sự s thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

1. Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự 2015;

Xử phạt:

- Bị cáo Lưu Kim P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;

Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2021, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020.

- Bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;

Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2021, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/10/2020 đến ngày 18/10/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật H nh sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015;

- Tuyên trả cho các bà Huỳnh Thị Thanh X 200.000đ (hai trăm ngh n đồng), Dư ng Thị H 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm ngh n đồng), Võ Thị Bạch Y 16.861.500đ (mười sáu triệu, tám trăm sáu mư i mốt ngh n, năm trăm đồng) trong tổng số tiền 23.961.500đ (hai mư i a triệu, chín trăm sáu mư i mốt ngh n, năm trăm đồng), đã được nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0.9040469 của C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên ngày 26/02/2021.

- Tuyên trả cho cho à Dư ng Thị H, bà Võ Thị Bạch Y; mỗi người được nhận 5.000.000đ trong tổng số tiền 10.400.000đ đã được các ị cáo nộp tại iên lai thu tiền số 0000127 và số 0000128 cùng ngày 10/11/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

3. Án phí:

Các bị cáo không phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của ản án h nh sự s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ