- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Minh Ch phạm tội Trộm cặp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Minh Ch phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 473/2020/HS-ST Ngày 12-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 435/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 470/2020/QĐXX-HS ngày 26/10/2020 đối với bị cáo:
Chu Minh Ch, sinh năm 1995 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng tr : Xóm A, xã C, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Chu Văn D, sinh năm: 1945 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1965; có vợ tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không, tiền sự: ngày 30/7/2020, bị Công an đồn Khu công nghiệp Đồng An, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 25/QĐ – XPHC ngày 30/7/2020); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2020, c m t.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần kho vận T; địa chỉ: Cảng T – C, phƣờng C, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Anh Phan Văn C, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 14/8/2020), c đơn yêu cầu giải quyết vắng m t.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Văn Đ, sinh năm 1987; địa chỉ: 168B L, phƣờng Th, thành phố Buôn Mê Thuột – Đắk Lăk, vắng m t.
- Người làm chứng:
1. Anh Võ Thanh Y, sinh năm 1980; Vắng m t.
2. Anh Đỗ Đức T, sinh năm 1991; Vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc t m tắt nhƣ sau:
Do không c tiền tiêu xài nên vào khoảng 21 giờ ngày 13/8/2020, bị cáo Chu Minh Ch đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Bị cáo chuẩn bị 04 cờ lê, 01 mỏ lết và 01 kìm công lực bỏ vào ba lô màu đỏ, đen rồi điều khiển xe mô tô Dream biển số 47FE-5254 đi đến Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp B để tìm tài sản. Khi đi đến đƣờng số 03 Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp B thuộc phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, Ch thấy 01 xe Container, biển số 51C-57709 (thuộc sở hữu của Công ty CP kho vận T – C, xe này công ty giao cho anh Phan Văn C làm tài xế) đang đỗ ven đƣờng không c ngƣời trông coi, Ch dừng xe mô tô gần đầu xe Container rồi đi bộ về phía đầu xe, bị cáo lấy kìm cộng lực cắt dây xích cột bình ắc quy, dùng mỏ lết và chìa kh a mở ốc bình ắc quy. Sau đ Ch lấy 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai 12V-150Ah để lên yên xe rồi chở về phòng trọ. Khi bị cáo vừa điều khiển xe tới đƣờng số 4 thì g p lực lƣợng tuần tra Công an Đồn Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp, lực lƣợng công an kiểm tra giấy tờ, bị cáo không xuất trình đƣợc giấy tờ tùy thân và không chứng minh đƣợc nguồn gốc phƣơng tiện cùng 02 bình ắc quy nên đã mời bị cáo về trụ sở làm việc. Tại đây, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và Công an đồn Khu công nghiệp lập biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu th .
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô Dream biển số: 47FE - 5254, số khung: DCB023HM015156; số máy: VHMCT50015156.
- 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai 12V-150Ah;
- 03 chìa kh a bằng kim loại số 13;
- 01 chìa kh a bằng kim loại c 02 đầu (số 12 và số 14);
- 01 mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 20cm;
- 01 kìm cộng lực, dài khoảng 45cm;
- 02 sợi dây điện dùng cân bình Ắc quy xe ô tô;
- 01 ba lô màu đỏ đen.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 134/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18/8/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 02 bình Ắc quy màu trắng - đen hiệu Đồng Nai, loại 12V-150Ah, trị giá 2.700.000đ
Tại cáo trạng số 467/CT – VKS – DA ngày 14 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Chu Minh Ch về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Chu Minh Ch mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 03 chìa kh a bằng kim loại số 13; 01 chìa kh a bằng kim loại c 02 đầu (số 12 và số 14); 01 mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 20cm; 01 kìm cộng lực, dài khoảng 45cm; 01 ba lô màu đỏ đen đây là những công cụ bị cáo Ch dùng để phạm tội; đối với 01 xe mô tô Dream biển số: 47FE - 5254, số khung: DCB023HM015156; số máy: VHMCT50015156 là phƣơng tiện bị cáo Ch dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn C là ngƣời đại diện của Công ty CP kho vận T đã nhận lại tài sản là 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai 12V-150Ah, 02 sợi dây điện dùng cân bình Ắc quy xe ô tô và không c yêu cầu gì khác nên không đ t ra vấn đề dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Minh Ch không tranh luận, không đối đáp và xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không c ý kiến gì. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Vào khoảng 23 giờ ngày 13/8/2020, tại đƣờng số 03 Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp B, bị cáo Chu Minh Ch đã c hành vi lén l t chiếm đoạt 02 bình Ắc quy hiệu Đồng Nai, loại 12V-150Ah c giá trị 2.700.000đ của Công ty CP kho vận T. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời đại diện của nguyên đơn dân sự, ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án là Bản kết luận định giá tài sản số 134/KLĐG-HĐĐGTS ngày 18/8/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 467/CT – VKS – DA ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là c căn cứ đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của nguyên đơn dân sự đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời c năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo mới bị xử phạt hành chính vì hành vi trộm cắp tài sản, không tu chí làm ăn mà lại tiếp tục đi trộm cắp chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, c xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho nguyên đơn dân sự, đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự.
Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã đƣợc thu hồi trả lại cho nguyên đơn dân sự, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự không c yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đ t ra.
Vật chứng: đối với 03 chìa kh a bằng kim loại số 13; 01 chìa khóa bằng kim loại c 02 đầu (số 12 và số 14); 01 mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 20cm; 01 kìm cộng lực, dài khoảng 45cm; 01 ba lô màu đỏ đen là công cụ bị cáo Ch dùng để phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô Dream biển số: 47FE - 5254, số khung: DCB023HM015156; số máy: VHMCT50015156 là phƣơng tiện bị cáo Ch dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù c thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và c tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chu Minh Ch phạm tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Chu Minh Ch 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) chìa kh a bằng kim loại số 13; 01 (một) chìa kh a bằng kim loại c 02 đầu (số 12 và số 14); 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài khoảng 20cm; 01 (một) kìm cộng lực, dài khoảng 45cm; 01 (một) ba lô màu đỏ đen.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô Dream biển số: 47FE - 5254, số khung: DCB023HM015156; số máy: VHMCT50015156.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2020 – BL số 88)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Chu Minh Ch phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo c m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, ngƣời c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ tr ; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Kim Hoa THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |