- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thu Hà - Trần Văn Tuân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thu H. Cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 472/2026/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2026 Về việc tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Nguyễn Văn Vỹ.
- Bà Trần Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Hường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2026 về việc "Tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2026/QĐXX - ST ngày 02 tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 415 ngày 23/3/2026; giữa: * Nguyên đơn: Chị Vũ Thu H, sinh năm 1978. Có mặt. HKTT: Căn hộ 4116 chung cư HH1A, L, phường H, Hà Nội. Trú tại: Số E, ngõ A, Đ, phường Đ, Hà Nội. * Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1982. Vắng mặt. HKTT và nơi cư trú: P Chung Cư H L, phường H, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn T vào ngày 06/6/2024, trước khi cưới có tự nguyện tìm hiểu, có đăng kí kết hôn tại UBND phường Đ, Thành phố Hà Nội, đây là lần thứ hai kết hôn.
Sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống tại phường Đ, Hà Nội, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hòa hợp và bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó ngay sau khi kết hôn anh T đã yêu cầu chị vay tiền đưa cho anh T và yêu cầu chị bán nhà là tài sản riêng của chị để đưa tiền cho anh T mở công ty làm ăn, chị không đồng ý bán nhà dẫn đến anh T gây áp lực và nói xấu chị với mọi người và có lời lẽ xúc phạm đến gia đình chị, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, từ đó tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt và mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân và chấm dứt quan hệ sinh lý ngay từ tháng 06/2024 cho đến nay.
Nay chị Vũ Thu H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Trần Văn T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị Vũ Thu H xác định chồng không có con chung. Ly hôn chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung (Động sản + bất động sản): Chị Vũ Thu H xác nhận vợ chồng không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung của vợ chồng: Chị Vũ Thu H xác nhận không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị Vũ Thu H vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T, Về con chung; tài sản chung và các khoản nợ chung chị Vũ Thu H xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của HĐXX và những người tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 3 thụ lý đơn xin ly hôn của chị Vũ Thu H đối với anh Trần Văn T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS. Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 195, 196, 197 Bộ luật TTDS; Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án chưa đảm bảo theo đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 BLTTDS.
Tại phiên tòa, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt theo giấy báo, thông báo đến Tòa ghi lời khai, thông báo các phiên hòa giải của Tòa án và không tham gia phiên toà mặc dù đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà, đã vi phạm khoản 16 điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/UBNTQH quy định về án phí năm 2016: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thu H về việc xin ly hôn với anh Trần Văn T; Về con chung, tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị H xác nhận không có nên không xét; chị Vũ Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Vũ Thu H có đơn ly hôn đối với anh Trần Văn T, nơi cư trú: P Chung Cư H L, phường H, Hà Nội, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội là theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Quá trình giải quyết Toà án nhân dân khu vực 3 đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Trần Văn T, tuy nhiên sau khi nhận được giấy báo anh Trần Văn T không đến Tòa trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thu H và các buổi làm việc anh Trần Văn T đều vắng mặt không có lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 3 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 23/3/2026 nguyên đơn chị Vũ Thu H vắng mặt có lí do, bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt không có lý do; vì vậy Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 điều 227, điều 233, khoản 2 điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và ấn định phiên toà được mở vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 16/4/2026. Tại phiên toà hôm nay bị đơn anh Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thu H kết hôn với anh Trần Văn T vào ngày 06/6/2024, trước đăng ký kết hôn anh chị có tự nguyện tìm hiểu, có đăng kí kết hôn tại UBND phường Đ, Thành phố Hà Nội, đây là lần thứ hai kết hôn.
Sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống tại phường Đ, Hà Nội, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hòa hợp và bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó ngay sau khi kết hôn anh T đã yêu cầu chị vay tiền đưa cho anh T và yêu cầu chị bán nhà là tài sản riêng của chị để đưa tiền cho anh T mở công ty làm ăn, chị không đồng ý bán nhà dẫn đến anh T gây áp lực và nói xấu chị với mọi người và có lời lẽ xúc phạm đến gia đình chị, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, từ đó tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt và mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân và chấm dứt quan hệ sinh lý ngay từ tháng 06/2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trần Văn T và chị Vũ Thu H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị Vũ Thu H xin ly hôn là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thu H, xử cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Trần Văn T là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vũ Thu H xác định không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết. HĐXX không giải quyết.
Về tài sản chung (động sản + bất động sản) và các khoản nợ chung: Chị Vũ Thu H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có các khoản nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Vũ Thu H chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thu H. Cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Trần Văn T.
- Về con chung: Không có, HĐXX không giải quyết.
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản) và nợ chung: Chị Vũ Thu H xác nhận không có và không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
3. Về án phí: Chị Vũ Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0010286 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Chị Vũ Thu H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Trần Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND khu vực 3; - THADS TP Hà Nội; - UBND phường Định Công, Hà Nội (GCNKH số 60/2024 ngày 06/6/2024) - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |