- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N T H - P V B - Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N T H. Chị N T H được ly hôn với anh P V B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật thi hành án
| TÒA ÁN NHÂNDÂN KHU VỰC 5- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 471/2026/HNGĐ-ST Ngày: 06 tháng 5 năm 2026 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga và bà Lưu Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2026/TLST- HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2026/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị N T H, sinh năm 1980;
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx;
Địa chỉ: Số S đường N, phường V, thành phố Hà Nội.
(Có mặt)
Bị đơn: Anh P V B, sinh năm 1981;
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx;
Địa chỉ: Lô B6-3.14 tại ô đất TT3 ô quy hoạch C14, phường P, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 22/10/2025, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, nguyên đơn – chị N T H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P V B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường V, thành phố Hà Nội) ngày 23/4/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại số 9/466/99 Ngô Gia Tự, phường V, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 12/2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh Bình có nhiều thói hư tật xấu, ham chơi dẫn đến nợ nần bên ngoài dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Dần dần mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm lẫn nhau. Dù anh chị cũng như gia đình hai bên đã tìm nhiều cách để hòa giải nhưng đều không thành. Đến tháng 10/2025 mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, nặng nề nên vợ chồng sống ly thân, cắt đứt hẳn quan hệ vợ chồng với nhau, không ai quan tâm đến ai từ đó đến nay. Hiện nay, chị đang sinh sống ở tại Số S đường N, phường V, thành phố Hà Nội; còn anh P V B đang sinh sống ở nơi đăng ký tạm trú tại Lô B6-3.14 tại ô đất TT3 ô quy hoạch C14, phường P, thành phố Hà Nội.
Sau khi chị gửi đơn xin ly hôn tới Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội chị đã nói chuyện này cho anh B, anh B cũng đồng ý ly hôn nhưng không đến Tòa án để giải quyết vì lý do bận việc. Vì vậy, chị và anh B đã cùng làm “Đơn đề nghị” ngày 22/01/2026 về việc thống nhất ly hôn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh B đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không còn yêu cầu gì, không trình bày thêm nội dung nào khác.
Bị đơn là anh P V B không có lời khai tại Tòa án do quá trình giải quyết anh đều vắng mặt không có lý do.
Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại UBND phường P và nơi anh B cư trú để anh B biết đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh B không đến Toà. Tuy nhiên, anh B và chị H đã có “Đơn đề nghị” ngày 22/01/2026, tại văn bản thể hiện ý chí thống nhất về việc ly hôn của anh B và chị H.
Đối với vụ án này, Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và tài sản chung vì vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa ngày hôm nay: Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh P V B và nội dung các lời khai mà chị đã trình bày tại Tòa án, chị không bổ sung gì thêm. Bị đơn, anh P V B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị đơn và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại điện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thủ tục Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị đơn không chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về Tố tụng dân sự thể hiện qua việc vắng mặt tại phiên tòa và quá trình tố tụng giải quyết vụ án không có lý do.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị N T H được ly hôn với anh P V B.
Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh P V B có đăng ký tạm trú và cư trú tại Lô B6-3.14 tại ô đất TT3 ô quy hoạch C14, phường P, thành phố Hà Nội và hiện đang sinh sống tại địa phương. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
. Về việc vắng mặt bị đơn tại phiên toà: Anh P V B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không phải vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: chị N T H và anh P V B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường V, thành phố Hà Nội ngày 23/4/2024. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Căn cứ vào những lời khai của chị H và các biên bản làm việc của Tòa án với chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị N T H và anh P V B quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng quan điểm sống bất đồng, không tìm được tiếng nói chung. Anh B có nhiều thói hư tật xấu, ham chơi, thiếu sự quan tâm đến gia đình. Khoảng tháng 10/2025, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh chị ly thân, cắt đứt hẳn quan hệ sinh lý với nhau, không sống chung với nhau nữa. Vợ chồng anh chị không có cuộc sống chung, không có kinh tế chung từ đó đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng với anh B đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm các thủ tục tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại UBND phường P nhưng anh B chưa bao giờ đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật cũng như đều vắng mặt tại các phiên hoà giải. Chị H có xuất trình cho Tòa án 01 “Đơn đề nghị” ngày 22/01/2026, tại văn bản này thể hiện rõ ý chí đồng thuận về việc ly hôn của anh B và chị H.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” “2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác...”. Như vậy, mục đích hôn nhân của vợ chồng của chị H và anh B không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh B là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Căn cứ vào lời khai của chị H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định: vợ chồng chị H và anh B không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Do anh B không đến Tòa án, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Chị H phải chịu án phí ly hôn, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật thi hành án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N T H. Chị N T H được ly hôn với anh P V B.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Chị Hương và anh Bình không có con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị N T H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án kí hiệu BLTU/25E, số 0021566, ngày 29/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội. Chị H không phải nộp thêm tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Chị N T H có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P V B vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - Toà án nhân dân TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - VKSND Khu vực 5 – Hà Nội; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội; - UBND phường V (Giấy chứng nhận kết hôn số 49, ngày 23/4/2024); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Thái Thị Hà Thu |