- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
- Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 470/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phạm Thị Mai
2/ Ông Nguyễn Tấn Nghiệp
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, TP . Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Trang – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 1109/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Q, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: B C, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Đặng Khương D, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: B C, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Ngọc Q trình bày: Bà và ông Đặng Khương D tự nguyện
đi đến hôn nhân, kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, TP . Hồ Chí Minh cấp ngày 25/02/2010. Quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm về cách sống, về tài chính, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến xúc phạm nhau. Cuộc sống gia đình vì thế rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai bên. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Quang H, sinh ngày 13/12/2010 và
Đặng Quang M, sinh ngày 04/4/2012. Bà Lê Ngọc Q đồng ý giao 02 con chung cho ông Đặng Khương D trực tiếp nuôi dưỡng, bà cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi con 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Đặng Khương D trình bày: Ông xác nhận việc bà Q trình bày về
quan hệ hôn nhân là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng về tài chính nên có xúc phạm lẫn nhau. Bản thân ông cũng đã cố gắng làm việc để lo cho gia đình, con cái đầy đủ nhưng không thể đáp ứng các nhu cầu khác của vợ được. Ông vẫn còn thương yêu vợ nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Quang H, sinh ngày 13/12/2010 và
Đặng Quang M, sinh ngày 04/4/2012. Ông đồng ý nuôi 02 con chung, việc cấp dưỡng tùy bà Q ông không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Ngọc Q có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông
Đặng Khương D vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Về thủ tục
tố tụng: Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Ngọc Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Lê Ngọc Q xin ly hôn với ông Đặng Khương D đang cư trú tại B C,
Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét đây là vụ án “Ly hôn”, bị đơn cư trú tại quận T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Ngọc Q có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Đặng Khương D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31, quyển số 01/2010 do Ủy
ban nhân dân Phường A, Quận C, TP . Hồ Chí Minh cấp ngày 25/02/2010 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Ngọc Q và ông Đặng Khương D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Q giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với
ông D, vì mâu thuẫn kéo dài, hôn nhân thực tế không còn, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ nên khả năng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình là không thể thực hiện được, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông D không đồng ý ly hôn vì vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Xét ông D không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã cho thời gian để các bên hòa giải với nhau. Mặc khác, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tiếp tục hòa giải chứng tỏ ông không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của mình và không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bà Q. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa bà Q và ông D đã thật sự trầm trọng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q là có căn cứ.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Quang H, sinh ngày 13/12/2010 và
Đặng Quang M, sinh ngày 04/4/2012. Hai bên thống nhất giao hai con chung cho ông D trực trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai trẻ là muốn ở ớ ba nên ghi nhận. Ông D không có yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà Q đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi con 2.000.000 đồng nên ghi nhận, việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 6/2023 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có.
Về án phí: Bà Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí đối với nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc Q được ly hôn với ông Đặng Khương D.
- Về con chung: Ông Đặng Khương D được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con
chung tên Đặng Quang H, sinh ngày 13/12/2010 và Đặng Quang M, sinh ngày 04/4/2012. Bà Lê Ngọc Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi con 2.000.000 (hai triệu) đồng kể từ tháng 6/2023 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
* Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể
thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
* Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, tổ chức theo quy
định của pháp luật Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có.
2/ Về án phí:
Bà Lê Ngọc Q phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm,
được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0032431 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Lê Ngọc Q phải nộp thêm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí đối với
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3/ Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Q. TB; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Vân |