- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 470/2018/HSST Ngày: 27/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Phạm Doãn Đức
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Bằng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 450/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:451/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Mạnh T, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1986 tại Hà Nam; Nơi cư trú: Xóm 5, Ngô Khê, xã B, huyện .L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T, sinh năm: 1961 và bà Đào Thị M, sinh năm: 1963; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm: 1988, Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012 ; tiền án: Ngày 29/3/2017, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành án xong ngày 05/3/2018); tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 07/9/2018 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1997
Trú tại: C349, tổ 4,, KP3, Phương L, TP.B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Mạnh T là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ ngày 07/09/2018, T đi bộ ngang qua cửa hàng bán thức ăn gia súc Richdogshop tại địa chỉ khu phố 7, phường T, thành phố B do anh Nguyễn Văn M làm chủ thì phát hiện chiếc xe mô tô biển số 60F1-782.54 vẫn cắm chìa khóa ở xe không có người trông coi. T đã đi tới mở khóa, nổ máy lấy trộm chiếc xe biển số 60F1-782.54 rồi bỏ chạy, cùng lúc anh M từ trong cửa hàng đi ra phát hiện tri hô thì được anh Nguyễn Đình H, Nguyễn Đình C và Phạm Xuân L là người đi đường đuổi theo Tường đến ngã tư L thuộc khu phố 7, phường T, thành phố B thì bắt giữ được T cùng tang vật giao cho Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển đến Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-782.54 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn M.
Tại kết luận định giá tài sản số 294/TCKH-HĐĐG ngày 14/09/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Biên Hòa kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-782.54 có tổng giá trị tài sản định giá là 11.893.000 đồng (Mười một triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Tại cáo trạng số 450/CT/VKS-BH ngày 05 tháng 11 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Vũ Mạnh T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
- Bị cáo Vũ Mạnh T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có cơ sở xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng 13 giờ ngày 07/09/2018, tại cửa hàng bán thức ăn gia súc Richdogshop địa chỉ khu phố 7, phường T, thành phố B. Vũ Mạnh T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-782.54 có giá trị định giá là 11.893.000 đồng (Mười một triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn M thì bị bắt quả tang, điều tra xử lý.
Về tội danh: Qua nội dung vụ án, xét thấy lợi dụng việc sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo Vũ Mạnh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn M với tổng giá trị là 11.893.000đ (Mười một triệu, tám trăm chin mươi ba nghìn đồng). Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Mạnh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
Về tính chất, mức độ hành vi:Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt nghiêm tương xứng, đủ để giáo dục cải tạo đối với bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Căn cứ khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 60F1-782.54 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn M, nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự : Ông Nguyễn Văn M đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường.
Về án phí: Bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Vũ Mạnh Tƣờng 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2018.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Mạnh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Vũ Mạnh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền này là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày người bị hại nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nôi nhaän: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP Biên Hòa; - Thi hành án hình sự, dân sự; - Nhà tạm giữ CA.TP Biên Hòa; - Bị cáo, bị hại; - Löu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Phƣơng Đông |