vanban.org

Bản án 47 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc Ph đối với anh Trần Thái Bạch L về việc “ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Ngọc Ph được ly hôn với anh Trần Thái Bạch L. Việc nuôi con: Anh Trần Thái Bạch L được quyền tiếp tục nuôi Trần Lâm Mạnh H, sinh ngày 12/01/2018, chị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh L không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc Ph đối với anh Trần Thái Bạch L về việc “ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 47/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 27-02-2023.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN

-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin.

2 Bà Trần Thị Đổi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn Hậu Nghĩa) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1130/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2022 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/01/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lâm Ngọc Ph, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Ấp Tr, xã H, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Thái Bạch L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp H1, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 16/11/2022 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lâm Ngọc Ph trình bày: Chị và anh Trần Thái Bạch L sống với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, chị và anh L không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị và anh L sống ly thân được hai năm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn anh L, vì bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

Về con chung: Trần Lâm Mạnh H, sinh ngày 12/01/2018, con hiện đang sống với anh L, sau khi ly hôn chị để con cho anh L tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Thái Bạch L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lâm Ngọc Ph khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thái Bạch L, anh L hiện có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện Đức Hòa nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là Thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh L vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Ngọc Ph và anh Trần Thái Bạch L chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị Ph và anh L được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, chị Ph và anh L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ph xin ly hôn anh L, anh L không phản hồi ý kiến của chị Ph.

Xét thấy chị Ph và anh L chung sống với nhau, phát sinh mâu thuẫn nhưng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. chị Ph và anh L không tự khắc phục được mâu thuẫn nên để mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, dẫn đến sống ly thân đã hai năm. Từ khi sống ly thân tới nay, anh L cũng không tìm ra được biện pháp gì để vợ chồng được đoàn tụ, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử hôm nay, anh L cũng không đến, không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị Ph và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên chị Ph xin ly hôn với anh L là phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ph đối với anh L.

Con chung: Trần Lâm Mạnh H, sinh ngày 12/01/2018, con hiện đang sống với anh L, sau khi ly hôn chị Ph để cho anh L tiếp tục nuôi. Xét thấy, theo lời trình bảy của chị Ph, cháu H đang sống với anh L ổn định, cháu phát triển bình thường. Anh L cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị Ph để con cho anh L tiếp tục nuôi khi ly hôn, nên thấy cần thiết để cho anh L tiếp tục nuôi cháu Hải là phù hợp, anh L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Chị Ph khai không có nên không đề cập đến. Đối với anh L không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị Ph nên không thể hiện có tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

chị Ph phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc Ph đối với anh Trần Thái Bạch L về việc “ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Ngọc Ph được ly hôn với anh Trần Thái Bạch L.

Việc nuôi con: Anh Trần Thái Bạch L được quyền tiếp tục nuôi Trần Lâm Mạnh H, sinh ngày 12/01/2018, chị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh L không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con

2. Về án phí: Chị Lâm Ngọc Ph chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. chị Ph được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007937 ngày 15/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh L An để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ