vanban.org

Bản án 47

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ph 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình s ; điều 106 Bộ luật t tụng hình s : Chấp nhận việc Cơ quan điều tra – Công an huyện Ea Kar trao tr lại 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật t tụng hình s; Điều 48 Bộ luật hình s; Điều 52 Bộ luật hình s Xử phạt
T A N NH N D N
C N H A
H N AKA
T NH Đ K L K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 47/2018/HSST
gày: 17/8/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC C N H A

H CH N H A V T NAM

T A N NH N D N H N A KA , T NH Đ K L K

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Lý.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông guyễn Thế Hằng và ông Vũ hư Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn iê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa:

à Trần Thị Minh guyệt - Chức vụ: Kiểm sát viên.

gày 17/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân huyện aKar mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình s thụ lý s : 3 201 H T, ngày 16 tháng 7 năm 201 ; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s : 37 201 QĐ T-H , ngày 03 tháng năm 201 , đ i v i bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Văn Ph (Tên gọi khác: Nguyễn Duy Ph), sinh năm: 1986. Tại: Huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Kh i 1, thị trấn EK, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hóa: 09 12; Con ông: guyễn Mạnh H, sinh năm: 19 6 và con bà guyễn Thị L, sinh năm: 19 , hiện đang làm nông và sinh s ng tại: Kh i 1, thị trấn EK, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba. Hiện chưa có vợ, con.

Tiền s : Không;

Tiền án: Có 02 tiền án. B n án s 15/2015/HSST, ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; B n án s 45/2015/HSST, ngày 17/7/2015 của Tòa án nhân huyện Ea Kar xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về nhân thân: Tại b n án s 52/2009/HSST, ngày 12/08/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài s n”. Ngày 26/07/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện phát xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục v i thời hạn 24 tháng.

ị cáo hiện đang được tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).

* Người bị h i:

1/. Ông Lê Xuân T, sinh năm: 1967. Trú tại: uôn Tơng inh, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Minh L, sinh năm 1973. Trú tại: Kh i 01, thị trấn EK, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào kho ng 12 giờ 30 phút, ngày 23/02/2018, Nguyễn Văn Ph điều khiển xe mô tô biển s 47H8 – 8142 (xe Ph mượn của ông Phạm Minh L) từ thị trấn EK đến xã Đ, huyện K. Khi đi đến uôn Tơng inh, xã Đ, huyện K thì Ph phát hiện thấy bên trong nhà ông Lê Xuân T có 01 cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 150 kg không có ai trông coi nên n y sinh ý định trộm cắp tài s n, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. au đó, Ph điều khiển xe mô tô đi vào trong sân nhà ông T, dùng hai tay bê cân đồng hồ bỏ lên yên xe phía sau chở đi thì bị ông T phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.

V t chứng thu giữ: 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 150 kg; 01 (một) xe mô tô biển s 47H8 – 8142, nhãn hiệu BAGACMAY, màu nâu.

Tại b n kết luận định giá tài s n s : 21 201 KL-HĐ 992, ngày 16 04 201 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình s huyện a Kar kết luận: 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh, loại 150 kg, đã qua sử dụng, trị giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Tại b n cáo trạng s : 36 CT-VK , ngày 16 7 201 của Viện kiểm sát nhân dân huyện a Kar đã truy t bị cáo guyễn Văn Ph, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b kho n 1 Điều 173 ộ luật hình s .

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo guyễn Văn Ph đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy t và lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện a Kar.

Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy t bị cáo: guyễn Văn Ph, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b kho n 1 Điều 173; điểm h, s kho n 1 Điều 1 ộ luật hình s năm 201 . Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 09 đến 12 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình s ; điều 106 Bộ luật t tụng hình s : Chấp nhận việc Cơ quan điều tra – Công an huyện Ea Kar trao tr lại 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 150 kg cho ông Lê uân Tiến và tr lại 01 (một) xe mô tô biển s 47H8 – 8142, nhãn hiệu BAGACMAY, màu nâu cho ông Phạm Minh L là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân s : Không ai có yêu cầu, nên không đặt ra để gi i quyết.

Bị cáo Nguyễn Văn Ph không tranh luận v i quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về t tụng:

Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc tr hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy t Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã th c hiện đúng thẩm quyền, trình t , thủ tục quy định của ộ luật t tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia t tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã th c hiện đúng pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

ét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp v i các chứng cứ, tài liệu có lưu trong hồ sơ vụ án, là có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 23/02/2018, bị cáo Nguyễn Văn Ph điều khiển xe mô đi đến uôn Tơng inh, xã Đ, huyện K thì phát hiện thấy bên trong nhà ông Lê Xuân T có 01 cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 1 0 kg, đã qua sử dụng, trị giá 400.000 đồng, không có ai trông coi nên bị cáo n y sinh ý định trộm cắp tài s n nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. au đó, bị cáo điều khiển xe mô tô đi vào trong sân nhà ông T, dùng hai tay bê cân đồng hồ bỏ lên yên xe phía sau chở đi thì bị ông T phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. Mặc dù, hành vi trộm cắp của bị cáo là chưa đủ định lượng theo quy định, nhưng bị cáo hiện chưa được xóa án tích mà lại vi phạm. Do đó, đã đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài s n”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình s .

T i điểm b khoản 1 Điều 173 B lu t hình s năm 2015 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a)................................................

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

[3] ét tính chất, mức độ, hậu qu do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng l c hành vi, nhận thức để biết được rằng hành vi lén lút trộm cắp tài s n thuộc quyền sở hữu của ông Lê uân Tiến là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài s n của người khác, mọi hành vi vi phạm sẽ bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc. ong xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, b n chất chây lười lao động, mu n có tiền tiêu xài nhưng lại không mu n bỏ sức lao động, nên bị cáo đã th c hiện hành vi phạm tội.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn Ph có 02 tiền án, cụ thể: Tại b n án s 15/2015/HSST, ngày 19/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” và tại b n án s 45/2015/HSST ngày 17/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”. Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, tại b n án s 52/2009/HSST, ngày 12/08/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài s n”. gày 26 07 2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện phát xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc v i thời hạn 24 tháng.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù đã được đưa đi chấp hành án rất nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho b n thân, mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian, có như vậy m i đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân s ng có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Tuy nhiên, quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cãi về hành vi phạm tội của mình; tài s n trộm cắp đã được tr lại cho người bị hại, nên hậu qu không l n. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết gi m nhẹ được quy định tại điểm h, s kho n 1 Ðiều 51 Bộ luật hình s để xem xét trong quá trình lượng hình gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hà nư c ta đ i v i người phạm tội.

[5] Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình s ; điều 106 Bộ luật t tụng hình s : Chấp nhận việc Cơ quan điều tra – Công an huyện Ea Kar trao tr lại 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 150 kg cho ông Lê Xuân T; 01 (một) xe mô tô biển s 47H8 – 8142, nhãn hiệu BAGACMAY, màu nâu cho ông Phạm Minh L là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân s : Không ai có yêu cầu, nên không đặt ra để gi i quyết.

[6] Về án phí: ị cáo ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình s sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

- Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 173; điểm h, s kho n 1 Ðiều 1; điểm h kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình s

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ph 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình s ; điều 106 Bộ luật t tụng hình s : Chấp nhận việc Cơ quan điều tra – Công an huyện Ea Kar trao tr lại 01 (một) cân đồng hồ lò xo hiệu hơn Hòa, màu xanh loại 150 kg cho ông Lê Xuân T; 01 (một) xe mô tô biển s 47H8 – 8142, nhãn hiệu BAGACMAY, màu nâu cho ông Phạm Minh L là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân s : Không ai có yêu cầu, nên không đặt ra để gi i quyết.

- Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 ộ luật t tụng hình s năm 2015; ghị quyết s 326 2016 U TVQH14, ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

uộc bị cáo guyễn Văn Ph ph i nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình s sơ thẩm.

ị cáo được quyền kháng cáo b n án sơ thẩm trong hạn 1 ngày, kể từ ngày tuyên án.

gười bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo b n án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được b n án hoặc kể từ ngày b n án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ