vanban.org

Bản án 47/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Bảo Y ly hôn anh Vũ Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bảo Y trực tiếp nuôi con chung là Vũ Thị Diễm H, sinh ngày 18/10/2015. Chị Y không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Anh N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Chị Y và anh N có quyền yêu cầu thay đổi người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Y ly hôn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Bảo Y ly hôn anh Vũ Văn N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:47/HNGĐ-ST
Ngày 04/8/2023
V/v: Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Tương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên toà: Không.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo Y, sinh năm 1992. Nơi cư trú: tổ 5, ấp A, xã D, huyện Đ, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn X, xã P, huyện R, tỉnh B1.

(Chị Y và anh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện,bản tự khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn trình bày: Chị và anh Vũ Văn N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã D huyện Đ, tỉnh B ngày 07/4/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại huyện Đ, tỉnh B. Do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Đến năm 2018, anh N đã chuyển về tỉnh B1 sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân và không gặp nhau để hàn gắn tình cảm. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn N.

Về con chung: Chị Y xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Diễm H, sinh ngày 18/10/2015. Hiện nay con chung đang ở cùng chị, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung: Chị Y xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Văn N trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Bảo Y tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Đ, tỉnh B ngày 07/4/2014. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn nhỏ dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Đến năm 2018, do mâu thuẫn về kinh tế nên bất đồng quan điểm, mâu thuẫn trầm trọng nên anh đã chuyển về xã P sinh sống còn chị Y và con chung vẫn sống tại tỉnh B, kể từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Y xin ly hôn, anh thấy tình cảm không còn, anh không có nguyện vọng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Y ly hôn.

Về con chung: Anh N xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Diễm H, sinh ngày 18/10/2015, hiện con chung đang ở với chị Yến, anh đồng ý giao con cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Anh N xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do vụ án không hòa giải được nên phải đưa ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Văn N đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân của chị Y và anh N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay nhưng cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân và đều không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng. Nay chị Y xin ly hôn, anh N đồng ý, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Y và anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Y được ly hôn anh N.

Về quan hệ con chung: Chị Y và anh N đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Diễm H, sinh ngày 18/10/2015.. Chị Y và anh N đều có nguyện vọng giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H cũng có nguyện vọng được ở cùng chị Y. Vì vậy cần giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, chị Y không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện, cần chấp nhận.

Về quan hệ tài sản chung: Chị Y và anh N đều xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Y phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Bảo Y ly hôn anh Vũ Văn N.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bảo Y trực tiếp nuôi con chung là Vũ Thị Diễm H, sinh ngày 18/10/2015. Chị Y không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Anh N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Chị Y và anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bảo Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Y đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005345 ngày 25/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Y và anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ