vanban.org

Bản án 47/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Huỳnh H - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân…"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2026/HS-ST
Ngày: 12-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Thanh Khen.

2/ Bà Nguyễn Thị Út.

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ái Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 35/2026/ TLST- HS ngày 23 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với:

-Bị cáo: Trần Huỳnh H, sinh ngày: 31/12/1992. Tại: tỉnh Vĩnh Long

Nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp L, xã L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Trung H1, sinh năm: 1965 ( đã chết) và bà Huỳnh Ngọc N, sinh năm: 1971; A, chị, em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm: 1987, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: Ngày 12/6/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long ( Nay là: Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long) xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/01/2013 nhưng chưa thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền án phí; Tiền sự: Không.

Ngày 12/12/2025 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, ngày 17/12/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2025 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

-Người làm chứng:

1/ Trần Minh Đ, sinh năm: 2000 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp L, xã B, tỉnh Vĩnh Long

2/ Phan Ngọc T, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 12/12/2025, Trần Huỳnh H đang ở nhà tại số A, tổ A, ấp L, xã L, tỉnh Vĩnh Long nhớ đến người bạn tên L, ngụ tại xã L, tỉnh Vĩnh Long còn thiếu nợ số tiền 150.000 đồng nên H lấy khẩu súng ngắn màu trắng ( do H cất giấu sau nhà) dắt vào lưng quần và 02 viên đạn bỏ vào túi quần sọt để đi đến nhà L đòi tiền nợ. Trên đường đi H gặp bạn là Trần Minh Đ ( sinh năm 2000, ngụ ấp L, xã B) đang điều khiểm xe mô tô biển số 64G1-328.43 thì H nhờ Đ chở đến nhà Phan Ngọc T ( sinh năm: 1995, ngụ ấp P, xã P) và Đ đồng ý. Mục đích H đến nhà Trường để mượn tiền và nhờ T bán dùm khẩu súng nêu trên. Khi cả hai đến nhà Trường thì T tổ chức nhậu gồm 04 người : T, H, Đ và Nguyễn Quốc V ( sinh năm: 1997, ngụ số A, tổ B, khóm P, phường P). Trong lúc nhậu, H có lấy khẩu súng ra cầm trên tay và nhờ T bán dùm, T có kêu H đưa khẩu súng cho T cầm để xem nhưng H không đưa rồi cất lại trong lưng quần và tiếp tục nhậu thêm một lúc nữa thì H kêu Đ chở về nhà.

Đến 14 giờ 45 phút cùng ngày, Khi Đ chở H chạy về đến khu vực đường đal trước nhà số A, tổ G, ấp P, xã P thì bị lực lượng Công an tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện H đang cất giấu trong người 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu trắng, tay cầm ốp nhựa màu đen, trên tay cầm có ký hiệu HDGUE GRIPS, súng dài 13cm, rộng 11cm, dày nhất 2,5cm; trong thân súng có 01 kim hỏa; 01 khối hình trụ bằng kim loại màu trắng, đường kính 3,1cm, cao 2,3cm, có 06 lỗ tròn trên khối hình trụ, bề mặt đáy có nhiều vết hằn ( tương tự ổ xoay tiếp đạn của khẩu súng) và 02 viên đạn có đầu màu đen bằng kim loại, thân bằng kim loại màu vàng nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các tang vật. Sau đó tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của H, lực lượng chức năng thu giữ 01 ống kim loại màu vàng, đáy có dấu vết hằn lõm ( vỏ đạn).

Tài liệu, đồ vật tạm giữ gồm: 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu trắng, tay cầm ốp nhựa màu đen, trên tay cầm có ký hiệu HDGUE GRIPS, súng dài 13cm, rộng 11cm, dày nhất 2,5cm; trong thân súng có 01 kim hỏa; 01 khối hình trụ bằng kim loại màu trắng, đường kính 3,1cm, cao 2,3cm, có 06 lỗ tròn trên khối hình trụ, bề mặt đáy có nhiều vết hằn ( tương tự ổ xoay tiếp đạn của khẩu súng) và 02 viên đạn có đầu màu đen bằng kim loại; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V đang quản lý.

Kết luận giám định số 5989/KL-KTHS ngày 15/12/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh – V1 kết luận:

01 khẩu súng gửi giám định và 01 khối kim loại hình trụ tròn màu trắng có 06 lỗ tròn ( ổ quay) lắp ráp thành 01 khẩu súng hoàn chỉnh là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn ổ quay tự chế bắn đạn cỡ ( 5,6x 15,5mm). Hiện tại khẩu súng còn bắn được.

02 viên đạn gửi giám định là vũ khí quân dụng, thuộc loại đạn cỡ (5,6x15,5mm) sử dụng được cho khẩu súng nêu trên.

01 ống kim loại màu vàng, đáy có dấu vết hằn lõm là vỏ đạn của đạn cỡ (5,6x15,5mm) không phải là vũ khí quân dụng. Vỏ đạn này không phải khẩu súng nêu trên bắn ra.

Sử dụng khẩu súng nêu trên bắn với đạn cỡ (5,6x15,5mm) trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

Về nguồn gốc khẩu súng: Bị cáo H khai khẩu súng trên là của người bạn tên B ( không rõ địa chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh). Đầu năm 2023 B đến ở nhờ nhà của H để cùng H đi làm nghề sơn nước tại Khu công nghiệp H, tỉnh Vĩnh Long. Tháng 6/2023 B nghỉ làm và về thành phố Hồ Chí Minh bỏ lại khẩu súng tại nhà của H, nên H cất giữ. Hiện tại cơ quan điều tra chưa làm việc được với B khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Minh Đ không biết bị cáo H có cất giấu khẩu súng, đạn trong người, bà Huỳnh Ngọc N ( mẹ H) sống cùng nhà với H không biết H cất giấu súng, đạn nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự.

Cáo trạng số 20/CT-VKSVLG-P1, ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long truy tố Trần Huỳnh H về tội “ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

-Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huỳnh H, về tội “ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh H phạm tội “ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Huỳnh H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: 01 khẩu súng ngắn dạng ổ quay bằng kim loại màu trắng, tay cầm ốp nhựa màu đen, trên tay cầm có ký hiệu “ HDGUE GRIPS”; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V xử lý theo quy định.

Về án phí: Đề nghị căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Huỳnh H nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo là lao động chính trong gia đình. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

.Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 12/12/2025, tại khu vực đường đal trước nhà số A, tổ G, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long, lực lượng Công an phát hiện Trần Huỳnh H có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng ngắn loại ổ quay bằng kim loại màu trắng, tay cầm ốp nhựa màu đen, trên tay cầm có 01 ký hiệu “ HDGUE GRIPS” và 02 viên đạn là vũ khí quân dụng.

Do đó có đủ căn cứ để xác định hành vi của Trần Huỳnh H đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long truy tố là đúng người đúng tội.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về sử dụng vũ khí quân dụng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì xem thường pháp luật bị cáo đã cố ý thực hiện. Do đó cần phải có 01 hình phạt thích đáng để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Năm 2012 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long ( Nay là: Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long) xử phạt về tội “ Trộm cắp tài sản” chỉ chấp hành xong về hình phạt, chưa chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Vật chứng liên quan đến vụ án giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V xử lý theo quy định.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Huỳnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Trần Huỳnh H 02 (H2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/12/2025.

2.Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng: 01 khẩu súng ngắn dạng ổ quay bằng kim loại màu trắng, tay cầm ốp nhựa màu đen, trên tay cầm có ký hiệu “ HDGUE GRIPS”; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V xử lý theo quy định của pháp luật ( Theo Quyết định về việc nhập kho vật chứng ngày 13/01/2026 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Huỳnh H nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ