- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HO HOANG A - DOAN THI BE H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Hoàng A đối với bị đơn bà Đoàn Thị Bé H về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Luật Phá sản và luật hoà giải; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2026/HNGĐ-ST Ngày 28-4-2026 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh;
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 09/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Hoàng A, sinh năm 1985; nơi cư trú: số B, hẻm L, khu C, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị Bé H, sinh năm 1986; nơi thường trú: ấp A, xã C, Thành phố Cần Thơ; tạm trú: Nhà trọ Lê Thị T, số E, Đại lộ B, tổ A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2025 và quá trình giải quyết, ông Hồ Hoàng A là nguyên đơn trình bày:
Ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H chung sống tại khu C, xã T, tỉnh Vĩnh Long được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, hôn nhân không có hạnh phúc. Bà H bỏ nhà đi từ năm 2013 đến nay. Hiện nay ông A và bà H không còn tình cảm với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông A được ly hôn với bà H. Ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H có 01 con chung tên Hồ Hoàng P, sinh ngày 25/02/2006. Con chung đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn bà Đoàn Thị Bé H. Tuy nhiên, bà H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có đơn yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Hồ Hoàng A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn bà Đoàn Thị Bé H đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Hoàng A đối với bị đơn bà Đoàn Thị Bé H về việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ngày 13/11/2025, ông Hồ Hoàng A có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn với bà Đoàn Thị Bé H nên đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: Bị đơn bà Đoàn Thị Bé H có nơi cư trú tại Nhà trọ Lê Thị T, số 561/21/5, Đại lộ B, tổ A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Ông Hồ Hoàng A là nguyên đơn trong vụ án có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Đoàn Thị Bé H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bà H vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H tự nguyện kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 107, quyển số 01 ngày 12/11/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Nguyên đơn ông Hồ Hoàng A xác định cuộc sống hôn nhân giữa ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2013 đến nay không thể hàn gắn, ông A xác định không còn tình cảm và giữ yêu cầu được ly hôn với bà H. Bị đơn bà Đoàn Thị Bé H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, thể hiện bà H không có thiện chí trong việc hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Hoàng A đối với bà Đoàn Thị Bé H là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Về con chung: Ông Hồ Hoàng A và bà Đoàn Thị Bé H có 01 con chung tên Hồ Hoàng P, sinh ngày 25/02/2006. Con chung đã trên 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Toà án năm 2025;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các điều 57, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Hoàng A đối với bị đơn bà Đoàn Thị Bé H về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Hoàng A được ly hôn với bà Đoàn Thị Bé H.
- Về con chung: Cháu Hồ Hoàng P, sinh ngày 25/02/2006 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Hồ Hoàng A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0050862 ngày 18/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 15 – TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh; - UBND xã Trà Ôn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nga |