vanban.org

Bản án 47/2026/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Ánh T về việc yêu cầu bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H trả tiền hụi.

Buộc bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lương Ánh T số tiền hụi là 67.490.000 (Sáu mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lương Ánh T - Trần Pha L, Phạm Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Ánh T về việc yêu cầu bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H trả tiền hụi.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2026/DS-ST
Ngày 26 - 02 - 2026
Về việc tranh chấp tiền hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Đức Tính

Ông Trần Huy Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 240/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Ánh T, sinh năm 1971. Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx (có mặt).

- Bị đơn: 1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt).

2. Bà Trần Pha L, sinh năm 1976. Căn cước số: xxxxxxxxxxxx (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lương Ánh T trình bày:

Bà và vợ chồng bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H là chỗ quen biết ở cùng xóm. Khoảng năm 2021 bà L, ông H làm chủ hụi và có mời bà tham gia, bà L ghi tên thường gọi của chồng bà là “7 Vũ” trên giấy hụi, bà tham gia hụi của bà L cụ thể như sau:

- Dây hụi ngày 25/01/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 1 lần gồm có 43 chưng, bà tham gia một chưng. Bà đóng được 39 kỳ hụi sống đến kỳ 40 bà bỏ thăm kêu 250.000 đồng, số tiền hốt được trừ cò và đối trừ 03 kỳ hụi chết (đóng đúp) thì vợ chồng bà L phải giao cho bà số tiền 27.740.000 đồng nhưng bà L không giao cho bà.

- Dây hụi ngày 20/02/2022 âm lịch, loại hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khui 1 lần gồm có 36 chưng, bà tham gia một chưng. Bà đóng được 33 kỳ hụi sống đến kỳ 34 thì vợ chồng bà L tuyên bố đình hụi (tháng 9/2024), trong khi chỉ còn 03 kỳ nữa là mãn hụi nên hai bên chốt lại số tiền để trả cho bà là 16.250.000 đồng.

- Dây hụi ngày 29/9/2022 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 1 lần gồm có 28 chưng, bà tham gia một chưng. Bà đóng được 25 kỳ hụi sống đến kỳ 26 thì vợ chồng bà L tuyên bố đình hụi, hai bên chốt lại số tiền để trả cho bà sau khi trừ cò là 24.500.000 đồng.

Tổng cộng 03 dây hụi vợ chồng bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H nợ bà số tiền là 68.490.000 đồng. Ngày 05/12/2024 vợ chồng bà L trả cho bà được 1.000.000 đồng nên còn nợ lại số tiền 67.490.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà Trần Pha L và ông Phạm Văn H trả cho bà số tiền hụi là 67.490.000 đồng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn bà Trần Pha L trình bày:

Bà thừa nhận bà có mở các dây hụi và bà T có tham gia chơi hụi như bà T trình bày là đúng. Hiện nay vợ chồng bà còn nợ bà T số tiền hụi là 67.490.000 đồng bà đồng ý trả cho bà T số tiền hụi này nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, khi nào có tiền nhiều thì bà sẽ trả nhiều hơn.

Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phạm Văn H đúng theo quy định pháp luật nhưng ông H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Bà Lương Ánh T khởi kiện yêu cầu bà Trần Pha L và ông Phạm Văn H trả tiền hụi nên quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp tiền hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do, nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Lương Ánh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H trả cho bà số tiền hụi là 67.490.000 đồng. Xét thấy, việc bà T tham gia các dây hụi do bà L làm chủ là có thật đã được bà L thừa nhận và đồng ý trả, Tòa án đã thông báo cho ông H biết về số nợ trên nhưng ông H không có ý kiến gì, xét thấy đây là khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân của bà L và ông H nên yêu cầu của bà T về việc yêu cầu bà L và ông H cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi 67.490.000 đồng đồng là có căn cứ chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử buộc bà Trần Pha L và ông Phạm Văn H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lương Ánh T số tiền hụi là 67.490.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng.

Xét yêu cầu bà Trần Pha L về việc xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, khi nào có tiền nhiều thì bà sẽ trả nhiều hơn, là không có căn cứ chấp nhận. Vì phương thức trả tiền cụ thể của các bên thuộc giai đoạn thi hành bản án có hiệu lực pháp luật và thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H cùng liên đới phải chịu 67.490.000 đồng x 5% = 3.374.500 đồng. Bà Lương Ánh T không phải chịu án phí, đã dự nộp được nhận lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Ánh T về việc yêu cầu bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H trả tiền hụi.

Buộc bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lương Ánh T số tiền hụi là 67.490.000 (Sáu mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Về án phí:

Bà Lương Ánh T không phải chịu án phí. Ngày 19 tháng 11 năm 2025, bà T đã nộp số tiền 1.687.000 (Một triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004890 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Cà Mau được nhận lại.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Trần Pha L, ông Phạm Văn H cùng liên đới chịu 3.374.500 (Ba triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm đồng (chưa nộp).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Lương Ánh T, bà Trần Pha L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ