vanban.org

Bản án 47/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HSST
Ngày 21/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Lưu

2. Bà Lê Thị Xuân

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh; Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 08/01/2025, đối với bị cáo:

Lê Văn Chính, sinh năm 2001;

Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Hang Đoỏng, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn Viện, sinh năm 1981 và bà Nông Thị Vin, sinh năm 1978; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

Bị hại: La Văn Hoan, sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Thôn Hang Đỏong, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Văn Khanh, sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú: thôn Làng Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt.

2. Lê Văn Viện, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú: thôn Hang Đoỏng, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Chính, sinh năm 2001; anh La Văn Hoan, sinh năm 1994; anh Hoàng Văn Hùng, sinh năm 2000 đều có hộ khẩu thường trú: thôn Hang Đỏong, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và anh Hoàng Văn Hiếu, sinh năm 1997 hộ khẩu thường trú: bản Phạt, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn là bạn của nhau. Chính, anh Hoan, anh Hùng cùng nhau thuê trọ của gia đình anh Nguyễn Thu Thủy, sinh năm 1994 có địa chỉ ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Chính trọ tại phòng 203 còn anh Hoan, anh Hùng trọ tại phòng 205) và đều là công nhân Công ty Dremtech - KCN VSIP. Bản thân Chính đi nghĩa vụ CAND, phân công tác tại đội CSBV - Trại giam Yên Trạch, có địa chỉ: Cao Lộc, Lạng Sơn. Đến ngày 27/2/2023 thì hoàn thành nghĩa vụ xuất ngũ trở về địa phương.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, anh Hoan đến Công ty làm ca đêm, do anh Hùng và Chính không có xe đi về nên anh Hoan cho anh Hùng mượn xe mô tô Yamaha Exciter BKS:12T1-188.96 của mình để chở Chính đi về phòng trọ. Khi về đến khu trọ anh Hùng dựng xe ở khu vực để xe ở tầng 1 gần cổng ngõ ra vào khu trọ rồi cùng Chính đi lên phòng. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày Chính và anh Hùng đi ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong Chính cùng với anh Hùng, anh Hiếu đi uống nước tại quán nước gần khu trọ, đến khoảng 21 giờ 15 phút thì Chính, anh Hùng và anh Hiếu về phòng của Hùng chơi. Khi vào phòng Chính ngồi ở mép ngoài đuôi giường, nhìn thấy chiếc chìa khóa của xe mô tô BKS:12T1-188.96 và chiếc balo của Hoan để ở dưới nền phòng trọ ngay cạnh chân của Chính, Chính nhìn thấy bên trong ngăn ngoài cùng chiếc balo có giấy đăng ký xe mô tô BKS: 12T1 - 188.96. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Chính đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô. Chính quan sát thấy anh Hiếu đang đứng hút thuốc ở cửa ra vào, anh Hùng đang nằm trên giường sử dụng điện thoại. Chính nhanh chóng dùng tay phải lấy chiếc chìa khóa và giấy đăng ký xe đút vào túi quần phía trước bên phải của mình, rồi tiếp tục ngồi chơi. Khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, Chính lấy lý do đi uống nước để xuống trộm cắp chiếc xe của anh Hoan. Chính đi bộ xuống khu vực để xe ở sân khu trọ và đi thẳng đến vị trí chiếc xe mô tô BKS:12T1-188.96 của Hoan đang được dựng ở đây cách cửa ra vào khu trọ khoảng 02 mét. Chính dùng chìa khóa lấy được ở trên phòng của Hùng mở khóa điện đề nổ xe rồi điều khiển xe đến quán cầm đồ "Anh Đức" có địa chỉ ở xóm Giai, thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, quán cầm đồ trên là của anh Lê Văn Đức, sinh năm 1994, HKTT: thôn Làng Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du. Khi đến Chính gặp ông Lê Văn Khanh, sinh năm 1966, HKTT: thôn Làng Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (là bố của anh Đức) đang trông quán, Chính bảo với ông Khanh "cháu có xe muốn cắm", ông Khanh hỏi "xe có chính chủ không", Chính bảo "xe cháu mua của bạn cùng quê không có giấy tờ mua bán", ông Khanh hỏi "có giấy tờ xe và chủ xe không" thì Chính cho ông Khanh xem giấy đăng ký xe và ảnh chụp căn cước công dân của anh Hoan. Ông Khanh kiểm tra thấy trùng khớp thì đồng ý cầm xe cho Chính với giá 15.000.000đ, ông Khanh thanh toán tiền mặt cho Chính. Toàn bộ số tiền trên Chính sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, anh Hoan đi làm và không thấy xe của mình đâu, anh Hoan hỏi anh Hùng "xe đâu" thì anh Hùng bảo "xe để dưới sân", sau đó anh Hoan và anh Hùng đi xuống chỗ để xe nhưng không thấy xe thì anh Hùng đoán là Chính đã lấy xe, thấy Hùng nói vậy anh Hoan điện cho Chính hỏi xe thì Chính bảo xe đã cắm với giá 15.000.000đ, số tiền cắm xe đã chi tiêu hết không có khả năng chuộc trả. Sau nhiều lần anh Hoan yêu cầu Chính trả xe nhưng không được nên ngày 21/10/2024 anh Hoan đã đến Cơ quan Công an làm đơn tố giác. Sau khi biết anh Hoan đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, ngày 22/10/2024 Chính đã đến Cơ quan Công an để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân.

Ngoài ra, Chính còn khai nhận: Ngày 20/10/2024 Chính có mượn chiếc xe mô tô Yamaha Exciter BKS:12T1-145.15 của anh Hưởng Minh Hiếu, sinh năm 1990, HKTT: thôn Hang Đỏong, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Hiếu và Chính là bạn của nhau) để đi đến nhà bạn chơi. Tuy nhiên, sau đó Chính mang chiếc xe đến bán cho anh Nguyễn Xuân Toàn, sinh năm 1991, HKTT: thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du là chủ quán Cầm Đồ 86 có địa chỉ: thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du với giá 12.000.000đ, số tiền này Chính trả nợ và chi tiêu hết. Quá trình điều tra xác định trước khi bán xe thì Chính có điện cho Hiếu xin phép được bán xe sau sẽ trả tiền bằng giá trị chiếc xe cho anh Hiếu thì được Hiếu đồng ý.

Ngày 22/10/2024, sau khi được thông báo chiếc xe mô tô trên là tang vật của vụ án ông Lê Văn Khanh đã tự nguyện giao nộp cùng toàn bộ giấy tờ liên quan.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 109/KL-ĐGTSTTHS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen BKS: 12T1-188.96, số máy: G3D4E994912, số khung: 1010KY223872, dung tích xi lanh 149cm3. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là: 20.700.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSTD ngày 06/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lê Văn Chính về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận: Hồi 21 giờ 50 phút ngày 19/10/2024 tại khu trọ nhà anh Nguyễn Thu Thủy, sinh năm 1994 có địa chỉ ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS:12T1-188.96 đã qua sử dụng có giá trị 20.700.000 đồng của anh La Văn Hoan để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Lê Văn Chính phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn Chính từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Không.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại La Văn Hoan, vắng mặt tại phiên toà, trong biên bản ghi lời khai của anh Hoan tại bút lục số 68 thể hiện: Anh Hoan đã nhận lại được tài sản và giấy tờ bị mất. Anh Hoan không có yêu cầu gì, bản thân anh Hoan và bị cáo Chính là bạn nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Chính.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Tiên Du, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định: Hồi 21 giờ 50 phút ngày 19/10/2024 tại khu trọ nhà anh Nguyễn Thu Thủy, sinh năm 1994 có địa chỉ ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Lê Văn Chính đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS:12T1-188.96 đã qua sử dụng có giá trị 20.700.000 đồng của anh La Văn Hoan để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo Lê Văn Chính về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần được xử phạt nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã bồi thường cho người liên quan, ông nội bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng III, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ công an nhân dân nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen BKS: 12T1-188.96 (kèm đăng ký xe mang tên La Văn Hoan) mà bị cáo Chính đã trộm cắp, ngày 01/11/2024, CQCSĐT Công an huyện Tiên Du đã trả lại cho chủ sở hữu là anh La Văn Hoan là đúng quy định pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 01/11/2024 ông Lê Văn Viện, sinh năm 1981, HKTT: thôn Hang Đoỏng, xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (là bố bị cáo Chính) đã trả lại cho ông Khanh số tiền 15.000.000đ, trả lại cho anh Hưởng Minh Hiếu số tiền 12.000.000đ. Ông Khanh, anh Hiếu đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, ông Viện cũng không có đề nghị gì về dân sự đối với số tiền trên .

[7] Liên quan trong vụ án:

- Đối với ông Lê Văn Khanh, do Chính nói chiếc xe mô tô là của mình đồng thời đưa cho ông Khanh xem giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe mang tên La Văn Hoan và tự nhận xe mình mua của Hoan. Ông Khanh tin tưởng nên đã đồng ý nhận cầm cố mà hoàn toàn không biết không biết chiếc xe trên là do Chính trộm cắp mà có. Tuy nhiên, ông Khanh cầm cố xe không có giấy tờ đăng ký chính chủ sở hữu, không có giấy mua bán hay giấy uỷ quyền hợp lệ; do vậy, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Du xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở cầm đồ Anh Đức là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với hành vi bán xe mô tô Yamaha Exciter BKS:12T1-145.15 của anh Hưởng Minh Hiếu, anh Hiếu đã đồng ý cho Chính bán xe nên xác định hành vi của Chính không có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra không xử lý đối với bị cáo Chính về hành vi này là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Chính phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Lê Văn Chính 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (21/01/2025) để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Không.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ