vanban.org

Bản án 47/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội: Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Đ - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 47/2025/HSST
Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Đào.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khanh.

Ông Nguyễn Trọng Vần.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963 tại Hải Dương. Nơi ĐKHKTT: khu TL, phường TH, thành phố HD, tỉnh HD. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu Đ, con bà Nguyễn Thị N; chồng Nguyễn Huy K. Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1987. Tiền án; tiền sự: Không.

Tạm giữ: Ngày 25/3/2025 đến ngày 28/3/2025 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963. Địa chỉ: thôn ĐT, xã ĐC, huyện CG, tỉnh HD.

Vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Việt H, chị Nguyễn Thị T.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Đ là lao động tự do, thường mua rau tại các chợ trên địa bàn huyện Cẩm Giàng và thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về bán lại cho các quán ăn. Sáng ngày 22/3/2025, Đón điều khiển xe môtô BKS 34B4-337.73 từ nhà đến chợ Lai Cách, huyện Cẩm Giàng và chợ Phú Lộc, huyện Cẩm Giàng mua rau, sau đó điều khiển xe theo hướng xã Cẩm Vũ – Đền Bia, rẽ phải vào đường Đền Bia – Hảo Hội về thành phố Hải Dương. Khoảng 07 giờ cùng ngày, khi Đón đi đến khu vực ngã tư trạm xăng thuộc thôn Hảo Hội Xuân, xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị V đi xe đạp mini màu xanh hướng ngược chiều, trong giỏ xe của bà V để 01 túi xách màu xanh. Lúc này, Đón nảy sinh ý định giật túi xách nên đã đi xe qua rồi quay lại đi cùng chiều với bà V. Đón đi bên cạnh (bên trái) xe đạp của bà V rồi dừng xe lại, giả vờ nói chuyện làm quen. Khi Đón và bà V đang dừng xe nói chuyện, lợi dụng bà V không để ý, Đón dùng tay phải giật lấy chiếc túi xách trong giỏ xe rồi điều khiển xe bỏ chạy về hướng đê Đức Chính. Trên đường về, Đón dừng lại kiểm tra, thấy bên trong túi xách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy AO4S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA - 1272 (đều không lắp sim) và số tiền 3.100.000 đồng. Đón cất tiền và điện thoại vào trong người rồi mang túi xách về vứt tại khu đô thị Nguyễn Lương Bằng, thành phố HD. Khoảng 08 giờ cùng ngày, Đón mang 02 điện thoại di động ra cửa hàng điện thoại của ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1968, ở số 129 ĐBP, phường LTN, thành phố HD bán được 500.000 đồng. Đến ngày 25/3/2025, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Đón đến Công an tỉnh Hải Dương tự thú, tự nguyện giao nộp 3.100.000 đồng và xe môtô BKS 34B4-337.73.

Ngày 25/3/2025, Nguyễn Thị Đ chỉ dẫn Cơ quan điều tra đến vị trí Đón vứt túi xách tại khu đô thị Nguyễn Lương Bằng, phường Việt Hòa. Tại đây, Cơ quan điều tra đã quản lý 01 túi xách màu xanh, có dây đeo, bên ngoài thêu chữ “NY”, kích thước (23x14)cm. Ông Nguyễn Việt H tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động.

Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 02/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện Cẩm Giàng, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, màu đen có giá trị 1.000.000 đồng; điện thoại nhãn hiệu Nokia TA-1272, màu đen, có giá trị là 200.000 đồng; 01 túi xách màu xanh, có quai đeo, bên ngoài thêu chữ “NY”, có giá trị 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 1.250.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSCG ngày 03/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị Đ về tội: Cướp giật tài sản, theo quy định khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, trình bầy luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (được viết tắt là HĐXX):

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội: Cướp giật tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 34 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, bị cáo rất ân hận về hành vi mà mình đã thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ, ngày 22/3/2025 tại khu vực trạm xăng thôn Hảo Hội Xuân, xã ĐC, huyện CG, tỉnh HD, Nguyễn Thị Đ đã có hành vi giật túi xách bên trong có số tiền 3.100.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy AO4S, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA - 1272, màu đen của bà Nguyễn Thị V. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.350.000 đồng.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Khi bị cáo phát hiện thấy bị hại đi ngược chiều và có túi xách để phía trước xe, bị cáo đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo chủ động điều khiển xe quay ngược lại đi cùng chiều với bị hại. Bị cáo dùng thủ đoạn nói chuyện hỏi đường để tạo niềm tin cũng như sơ hở của bị hại, sau đó công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.350.000đ nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS): Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả. Sau khi thực hiện hành vi vi phạm, bị cáo đã ân hận và ra cơ quan Công an tự thú khi chưa bị ai phát hiện nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, r khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào quy định của BLHS, HĐXX thấy rằng, bị cáo ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nên HĐXX sẽ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế bản thân không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Việt H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không phải xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

. Về xử lý vật chứng: Không phải giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định, xe môtô Honda Wave BKS 34B4-337.73 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (con gái của bị cáo) cho bị cáo mượn. Ngày 28/5/2025, Cơ quan điều tra đã trả xe môtô cho chị Thanh là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội: Cướp giật tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Đ cho Uỷ ban nhân dân phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[3]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc Toà án niêm yết bản án.

Cỡ chữ