- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TAND THÀNH PHỐ L TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2025/HS-ST Ngày 28-3- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung,
Ông Giàng A Chỉnh
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Phùng Mai Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 28/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn M; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1988, tại tỉnh L. Nơi cư trú: bản San Th, xã San Th, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; Dân tộc: Giáy; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Hồ Văn Tủi, đã chết. Con bà: Phan Thị Nòn, sinh năm 1966; Họ tên vợ: Vàng Thị Yến, sinh năm 1993 và có 02 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án: Tại Bản án số: 51/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L đã xử phạt Hồ Văn M 13 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Ngày 10/6/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt. Đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt vào ngày 21/12/2024 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 cho đến nay tại Cơ sở Quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại Tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 22 giờ 50 phút, ngày 21/12/2024, tổ công tác của Công an xã San Th, thành phố L, tỉnh L đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường quốc lộ 4D thuộc bản San Th, xã San Th, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Hồ Văn M có biểu hiện nghi vấn phạm tội. Qua kiểm tra M tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng đang cầm ở bàn tay trái. Theo M khai đó là Heroine, M tàng trữ để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Văn M khai nhận: Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là vào khoảng 22 giờ ngày 21/12/2024, Hồ Văn M đi bộ một mình từ bản San Th, xã San Th, thành phố L, tỉnh L đến khu vực đường quốc lộ 4D thuộc bản San Th hướng đi xã G, huyện Tam Đ để đi chơi thì M gặp và trao đổi mua bán Heroine với một người đàn ông lạ mặt, không rõ nhân thân lai lịch. Qua trao đổi mua bán, M mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh nilon màu vàng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, M đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an xã San Th bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số: 59/KLGĐ ngày 22/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Hồ Văn M trong quá trình bắt quả tang ngày 21/12/2024 có khối lượng là 0,14 gam. Lấy toàn bộ 0,14 gam gửi làm mẫu vật giám định
Kết luận giám định số: 46/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Cáo trạng số: 12/CT-VKSTP ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Hồ Văn M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hồ Văn M từ 17 tháng đến 19 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì công văn của Công an thành phố L (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu vàng). Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, kết luận giám định… và vật chứng đã thu giữ, được xem xét, tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 21/12/2024, tại bản San Th, xã San Th, thành phố L, tỉnh L, Hồ Văn M đang tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine để sử dụng thì bị Công an xã San Th phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Hồ Văn M là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Hồ Văn M có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số: 51/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L đã xử phạt Hồ Văn M 13 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Ngày 10/6/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt. Đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,14 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Đối với 01 mảnh nilon màu vàng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, theo lời khai của Hồ Văn M, nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do mua của một người đàn ông lạ mặt bị cáo gặp tại khu vực đường quốc lộ 4D thuộc bản San Th, xã San Th, thành phố L, tỉnh L. Tuy nhiên, M không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Văn M 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2024.
3. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố L (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu vàng)
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).
4. Về án phí: Bị cáo Hồ Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L; - Cơ quan THAHS CA tỉnh L; - Cơ sở QLTG, TG KVTP L thuộc Trại Tạm giam CA tỉnh L; - VKSND TP L; - Chi cục THADS TP L; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh L; - Bị cáo; - Lưu HSVA. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tòng Thị Tuyết THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |