- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Bá Tuấn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:47/2025/HS-ST Ngày 16 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trung Thành
2. Bà Trần Thị Kim Khuyên.
-Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Bá T, sinh ngày 08/01/1989. Sinh quán: xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Thôn Th, xã H, tỉnh Ph. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Bá H, sinh năm 1956 (đã chết) và con bà Lý Thị Đ, sinh năm 1958; vợ Hán Thị H, sinh năm 1996; con có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1962, vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Ph
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/09/2025, Hoàng Bá T, sinh năm 1989 cư trú tại thôn Th, xã H, tỉnh Ph một mình đi đến nhà nghỉ Trường Sơn thuộc thôn Đ, xã H, tỉnh Ph thuê phòng nghỉ để hôm sau đi xe khách xuống Hà Nội làm thuê. Đến khoảng 06 giờ 15 phút ngày 16/09/2025, T thanh toán trả phòng xong đi bộ ra đường gần khu vực nhà nghỉ Trường Sơn để bắt xe. Lúc này, T quan sát thấy có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đỏ - đen, BKS 88C1 – 017.00 của bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1962 cư trú thôn Đ, xã H, tỉnh Ph đang dựng ở sân nhà bà Hoàng Thị B, sinh năm 1974 ở cùng thôn (bà B là em gái bà Đ và chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá xe. T quan sát thấy không có ai trông giữ nên liền nảy sinh ý định trộm cắp để sử dụng làm phương tiện đi lại, T đi đến ngồi lên yên xe mở chìa khoá, nổ máy phóng đi xuống phường V, tỉnh Ph để tìm việc làm. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T thấy vợ là chị Hán Thị H, sinh năm 1996, cư trú xã H gọi điện thoại cho T và nói Công an xã Hải Lựu đến nhà tìm hỏi T, T biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên sáng ngày 17/9/2025, T đến Công an xã Hải Lựu đầu thú và giao nộp chiếc xe trộm cắp được. Tại bản Kết luận định giá số 148/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đỏ - đen, sản xuất năm 2011, BKS 88C1 – 017.00 trị giá 5.000.000 đồng.”
Tại Cáo trạng số:18/CT- VKSSL ngày 18 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hoàng Bá T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Bá T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai phạm, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Bá T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 11 đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, lời khai của bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản …. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 16/9/2025 tại thôn Đ, xã H, tỉnh Ph, Hoàng Bá T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đỏ - đen, BKS 88C1 – 017.00, trị giá 5.000.000 đồng của bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1962 cư trú thôn Đ, xã H, tỉnh Ph.
Hành vi của Hoàng Bá T đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Khi lượng hình, cần xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, như vậy cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho xã hội.
3 Về hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo Hoàng Bá Tuấn thấy rằng: bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đỏ - đen, BKS 88C1 – 017.00 là tài sản hợp pháp của bà Hoàng Thị Đ. Ngày 18/10/2025, Cơ quan điều tra trả lại cho bà Đ là đúng chủ sở hữu, bà Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng dân sự;
Xử phạt: Hoàng Bá T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo Hoàng Bá T tại phiên tòa.
Giao bị cáo Hoàng Bá T cho UBND xã H, tỉnh Ph giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Hoàng Bá T có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo T được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Bá T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, có quyền kháng cáo bản án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ - VKSND khu vực 11- PT. - Phòng THSDS khu vực 11- PT - Công an tỉnh Phú Thọ (phòng hs) - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ - Bị cáo - Trại tạm giam số 2- CA tỉnh Phú Thọ - Lưu HS+Vp | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đã ký và đóng dấu Ngô Thị Minh Hiệp |