vanban.org

Bản án 47/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 11/03/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn P; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang về phần xử lý vật chứng.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn P - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quâ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn P; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang về phần xử lý vật chứng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 304 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-PT
Ngày: 11 – 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu.

Ông Trần Văn Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tấn P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tấn P, sinh ngày 27/10/2001 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: 0822010159XX.

- Nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

- Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.

- Con ông Văn Thanh H (đã chết) và bà Nguyễn Tuyết M; Vợ, con: chưa có;

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, bản án còn có 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2023, Nguyễn Tấn K, sinh năm 2003, đăng ký thường trú: ấp L, xã R, thị xã G (nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang nhặt được 01 khẩu súng không có đạn, K kiểm tra thấy súng bị sét và hỏng, không sử dụng được nên mang về cất giấu tại gốc cây dừa nước phía sau nhà. Khoảng tháng 8/2023, Nguyễn Tấn K nói cho Phạm Văn L, sinh ngày 30/9/2004, đăng ký thường trú: ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang biết về khẩu súng. Nghe vậy, L hỏi xin nên K đã cho L; L kiểm tra thì thấy súng bị hỏng nhiều bộ phận như: Búa đập bị hỏng, ổ đạn bị rớt ra, kim hỏa không đúng vị trí và mất 3 ốc vít, súng không sử dụng được; L không sửa chữa lại súng mà cất giấu trong nhà. Sau đó, L mang súng đến gặp Lê Văn H, sinh năm 1998, đăng ký thường trú: ấp H, xã E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang để khoe rồi gửi súng cho H giữ dùm.

Tháng 8/2023, Nguyễn Tấn P là bạn của Phạm Văn L, trước đó P biết việc L có khẩu súng nói trên; do có mâu thuẫn với người khác, nên P liên hệ với L để mua súng với giá 1.200.000 đồng nhằm mục đích dọa cho người khác sợ; P và L hẹn gặp nhau tại khu vực cổng chào thị trấn V, huyện Đ để giao súng. L đến gặp H và nói cho H biết việc bán súng cho P; L kêu H đưa lại súng và nhờ H chở đến điểm hẹn để bán súng cho P. Khi đến điểm hẹn, L giấu súng tại một gốc cây bên đường, P tự đến lấy súng và trả cho L số tiền 1.200.000 đồng như đã thỏa thuận. P mang súng về nhà kiểm tra thì phát hiện súng đã bị hỏng, P tự sửa chữa thì súng sử dụng được nên cất giấu súng trong phòng ngủ. Ngày 28/10/2023, Công an huyện Đ kiểm tra hành chính nhà của Nguyễn Tấn P, phát hiện và thu giữ 01 (một) khẩu súng ngắn dạng ổ quay màu đen, thân súng và tay cầm bằng nhựa, ổ quay và nòng súng bằng kim loại, trên thân súng có ghi chữ "SMITH & WESSON - MADE IN CHINA - ZP5", số súng "XYL221106064".

Căn cứ kết luận giám định số 1821 ngày 27/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang: Khẩu súng gửi giám định nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm, hiện tại khẩu súng đã được cải tạo lại buồng chứa đạn, nòng súng và bộ phận kim hỏa để bắn được với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, khẩu súng trên có đầy đủ các bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng; sử dụng khẩu súng gửi giám định bắn với các loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, đạn nổ vào cơ thể người có thể gây thương tích hoặc chết người.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tấn P không thừa nhận đã mua súng của Phạm Văn L (P xác định L cho súng chứ không bán), nhưng căn cứ kết quả điều tra như: tài liệu khám nghiệm hiện trường, lời khai những người liên quan thì có đủ cơ sở xác định Phạm Văn L đã bán súng cho Nguyễn Tấn P như nêu trên.

Cơ quan An ninh điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 167 ngày 17/5/2024, về việc xác định khẩu súng với tình trạng ban đầu trước khi Nguyễn Tấn P sửa chữa có phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng hay không. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có Công văn số 368 ngày 22/5/2024 khẳng định không đủ cơ sở để xác định khẩu súng trước khi bị cáo Nguyễn Tấn P sửa chữa có phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng hay không. Do không chứng minh được trước khi được sửa chữa, súng có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng hay không, nên không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tấn K, Phạm Văn L và Lê Văn H. Đồng thời, không đủ căn cứ khởi tố Nguyễn Tấn P về hành vi “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/10/2024, bị cáo Nguyễn Tấn P có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Tấn P khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Tấn P tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập. Vì thế, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Nhận thấy, về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, các loại vũ khí quân dụng do Nhà nước thống nhất quản lý và chỉ những cá nhân, tổ chức đủ điều kiện mới được trang bị để sử dụng; mọi hành vi chế tạo, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép... sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng, bị cáo lại cố ý phạm tội, trực tiếp tìm mua, sửa chữa, cất dấu nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo nhưng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Tại điểm đ khoản 2 Điều 20 Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ thì cơ quan quân sự có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ quân dụng. Thế nhưng, quyết định của bản án sơ thẩm tuyên “Tịch thu tiêu hủy” là không phù hợp, nên Hội đồng xét xử sửa phần xử lý vật chứng.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn P; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Tiền Giang về phần xử lý vật chứng.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 2 Điều 20 Nghị định số79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ.

Tịch thu, giao 01 (một) khẩu súng ngắn dạng ổ quay màu đen, thân súng và tay cầm bằng nhựa, ổ quay và nòng súng bằng kim loại, trên thân súng có ghi chữ “SMITH & WESSON – MADE IN CHINA – ZP5”, số súng “XYL221106064” cho Ban chỉ huy quân sự huyện Đ, tỉnh Tiền Giang giải quyết theo thẩm quyền.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ