vanban.org

Bản án 47/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chín…

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định về áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình; Nghị quyết s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Lệ H - Nguyễn Hải Đ"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chín…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025
V/v: tranh chấp “ Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Dũng.

2. Bà Cao Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 286/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Lệ H, sinh năm: 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 2, phường B, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là tổ dân phố 16, phường B, tỉnh Khánh Hoà).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 585 Thống Nhất, khu phố 3, phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tổ dân phố 33, phường P, tỉnh Khánh Hòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Lệ H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hải Đ chung sống với nhau từ năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 42, ngày 02/12/2029.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ông Nguyễn Hải Đ tại địa chỉ số 585 Thống Nhất, khu phố 3, phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tổ dân phố 33, phường P, tỉnh Khánh Hòa).

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến khoảng giữa năm 2022 thì giữa bà và gia đình chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà dọn về nhà cha mẹ ruột tại khu phố 2, phường B, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là tổ dân phố 16, phường B, tỉnh Khánh Hoà) ở cho đến ngày hôm nay. Thời gian đầu khi mới xảy ra mâu thuẫn với gia đình chồng thì giữa bà và ông Nguyễn Hải Đ vẫn còn thương nhau nên ông Đ vẫn lên nhà cha mẹ ruột của bà để thăm vợ. Đến cuối năm 2022 bà có thai và sinh con chung của của vợ chồng thì bà bắt đầu thấy chồng mình có những thay đổi lạ và lạnh nhạt với vợ, không quan tâm, hỏi han gì đến vợ, con. Ông Nguyễn Hải Đ thường xuyên ăn nhậu cùng bạn bè và nhiều lần đi Bar, đi Karaoke cùng với các cô gái. Sau khi bà phát hiện sự việc bà có hỏi nhưng ông Nguyễn Hải Đ chối cãi, cho đến khi bà phát hiện ra những đoạn tin nhắn của ông Nguyễn Hải Đ và những người bạn nói về chuyện ăn, nhậu có gái phục vụ và đi Bar cùng với gái thì ông Nguyễn Hải Đ mới thừa nhận những điều bà nói trước đây đều là đúng sự thật. Vì vậy, bà cảm thấy cả thể xác và tinh thần mình đều bị tổn thương sâu sắc. Người chồng mà bà đã hết mực tin tưởng, yêu thương nhưng giờ đây chỉ biết tới bạn bè, người ngoài, coi trọng bạn bè hơn vợ, con. Vì vậy, bà không thể tiếp tục chung sống với ông Nguyễn Hải Đ được nữa. Bà xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Hải Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ; Các tin nhắn và đoạn video để chứng minh cho lời trình bày của mình là đúng sự thật, bà đã cung cấp cho Tòa án để làm bằng chứng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày: 11/5/2022. Tại đơn khởi kiện ngày 16/5/2025 bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng. Nay bà xin thay đổi lại yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc An N và không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện tại bà có công việc ổn định, mở tiệm trang điểm, thu nhập hàng tháng trung bình khoảng 8.000.000 đồng nên có đủ khả năng kinh tế để nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án ông Nguyễn Hải Đ không đến Tòa án và cũng không gửi bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Dương Lệ H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về phần nội dung: Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Dương Lệ H là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận;

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho bà Dương Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày: 11/5/2022. Ông Nguyễn Hải Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Dương Lệ H không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Dương Lệ H và ông Nguyễn Hải Đ không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2025 bà Dương Lệ H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ; Về con chung: Bà Dương Lệ H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc An N và yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 5.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Lệ H đã xin thay đổi lại yêu cầu khởi kiện, về quan hệ con chung bà Dương Lệ H chỉ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc An N và không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xác định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào Điều 244 của Bộ Luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Dương Lệ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn là ông Nguyễn Hải Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ trú tại tổ dân phố 33, phường P, tỉnh Khánh Hòa (cũ là phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;

. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Dương Lệ H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Lệ H và ông Nguyễn Hải Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 42, ngày 02/12/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tình trạng hôn nhân, theo nguyên đơn bà Dương Lệ H trình bày: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến khoảng giữa năm 2022 thì giữa bà và gia đình chồng xảy ra mâu thuẫn. Thời gian đầu khi mới xảy ra mâu thuẫn với gia đình chồng thì giữa bà và ông Nguyễn Hải Đ vẫn còn thương nhau nên ông Đ vẫn lên nhà cha mẹ ruột của bà để thăm vợ. Đến cuối năm 2022 bà có thai và sinh con chung của của vợ chồng thì bà bắt đầu thấy chồng mình có những thay đổi lạ và lạnh nhạt với vợ, không quan tâm, hỏi han gì đến vợ, con. Ông Nguyễn Hải Đ thường xuyên ăn nhậu cùng bạn bè và nhiều lần đi Bar, đi karaoke cùng với các cô gái. Vì vậy, bà cảm thấy cả thể xác và tinh thần mình đều bị tổn thương sâu sắc. Người chồng mà bà đã hết mực tin tưởng, yêu thương nhưng giờ đây chỉ biết tới bạn bè, người ngoài, coi trọng bạn bè hơn vợ, con. Bà xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Hải Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.

Tại đơn xin xác nhận về tình trạng hôn nhân của mình như phần trình bày tại Tòa án và đã được tổ trưởng, tổ dân phố 33, phường P, tỉnh Khánh Hòa xác nhận: “Theo đơn trình bày của bà Dương Lệ H là đúng sự thật”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Dương Lệ H và ông Nguyễn Hải Đ là có thật.

Hơn nữa, tại biên bản xác minh ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa được Công an phường P, tỉnh Khánh Hòa xác nhận: “ Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1991 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 585 Thống Nhất, khu phố 3, phường K, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tổ dân phố 33, phường P, tỉnh Khánh Hòa). Hiện nay, ông Nguyễn Hải Đ đang có mặt tại địa phương”. Mặc dù, đang có mặt tại nơi cư trú nhưng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Nguyễn Hải Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Lệ H cho dù Toà án đã thực hiện đúng thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật và thông báo cho ông Nguyễn Hải Đ biết để ông Nguyễn Hải Đ có trách nhiệm:“phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo” nhưng ông Nguyễn Hải Đ không chấp hành, thể hiện rõ ông Nguyễn Hải Đ xem thường pháp luật, không có thiện chí đoàn tụ gia đình, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này cũng thể hiện ông Nguyễn Hải Đ không thiết tha gì trong việc bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, từ bỏ các quyền mà pháp luật quy định, kể cả quyền yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ.

Điều đó chứng tỏ rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Dương Lệ H và ông Nguyễn Hải Đ đã thật sự gay gắt làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Dương Lệ H yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu được nuôi con của bà Dương Lệ H, Hội đồng xét xử thấy rằng, từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không còn sống chung thì cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày: 11/5/2022 do bà Dương Lệ H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày: 11/5/2022 cho bà bà Dương Lệ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2025 bà Dương Lệ H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc An N và yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 5.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Lệ H đã xin thay đổi lại yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc An N và không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Lệ H và ông Nguyễn Hải Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập tới.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà Dương Lệ H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định về áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Lệ H.

1. Về hôn nhân: Bà Dương Lệ H được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày: 11/5/2022 cho bà Dương Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Hải Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Dương Lệ H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Dương Lệ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001286 ngày 16/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Khánh Hòa). Bà Dương Lệ H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn bà Dương Lệ H và bị đơn ông Nguyễn Hải Đ, quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ