- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn đối với anh Trần Trung D. Quan hệ hôn nhân của chị Vũ Thị T và anh Trần Trung D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/12/2025 V/v: Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3-Ninh Bình
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025; về việc “Ly hôn,”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T sinh ngày 22/12/1979; Địa chỉ: Thôn 3, xã P, tỉnh N; Nơi ở hiện nay: Thôn T1, xã Phụ D, tỉnh H. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Cấp ngày 01/03/2023; Nơi cấp: Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
- Bị đơn: anh Trần Trung D sinh ngày 28/3/1984; địa chỉ: Thôn 3, xã P, tỉnh N.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Cấp ngày 16/9/2022; Nơi cấp: Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện,bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Trần Trung D được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 05/10/2017 tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái B ( nay xã Phụ D, tỉnh H) Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không có tiếng nói chung. Dẫn đến cãi vã và không tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng không hạnh phúc.Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Năm 2024, chị T và anh D đã không còn ở cùng nhau và ly thân cho đến nay. Chị T thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Trung D.
Về con chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết
Về tài sản chung và công nợ chung tự thỏa thuận nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xử vắng mặt chị Vũ Thị T vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Trung D vì tình cảm chị không còn. Về con chung, không có, không đề nghị tòa án giải quyết. V ề tài sản chung và công nợ chung: tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, các tài liệu,chứng cứ có tại hồ sơ bị đơn anh Trần Trung D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bị đơn anh Trần Trung D đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt và không có mặt nhưng đã có ý kiến trình bày như sau: Vào năm 2017 anh và chị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái B ( nay xã Phụ D, tỉnh H) trên cơ sở tự nguyện sau khi kết hôn anh chị sống hành phúc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh là cãi vã nhau, sau đó chị T bỏ đi khỏi nhà cho đến nay, nay chị T nộp đơn xin ly hôn xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh D cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết
Về tài sản chung, công nợ chung: tự thỏa thuận nên không yêu cầu tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết anh Trần Trung D có trình bày do điều kiện công việc nhiều không tiện đi lại nên không thể thường xuyên về làm việc với tòa án được nên có đề nghị tòa án trong quá trình giải quyết và xét xử cho anh được vắng mặt.
Ngoài ra, anh Trần Trung D không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Ninh Binh tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T. Xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn đối với anh Trần Trung D.
2. Về con chung: Không có, Tòa án không giải quyết
3. Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị T chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
.Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn Tòa án nhân dân khu vực 3- Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.
Ngày 24/11/2025, nguyên đơn chị Vũ Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Trung D là bị đơn trong vụ án đã có yêu cầu xin xử vắng mặt tại phiên tòa với công việc nhiều không thể tham gia phiên tòa được. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về áp dụng pháp luật nội dung:
.Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Trần Trung D được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 15/10/2017 tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái B ( nay xã Phụ D, tỉnh H) trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2017 vào ngày 05/10/2017 đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh D chung sống hòa thuận hạnh phúc được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh, chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ cuối năm 2018, chị T đã không ở cùng anh D. Chị T xét thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Trung D.
Anh Trần Trung D cũng trình bày sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn giống như chị T đã trình bày. Sau thời gian phát sinh mâu thuẫn, nay chị T xin ly hôn anh thì anh cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau Chính quyền địa phương nơi chị T và anh D cư trú trước khi chị T bỏ đi cũng xác nhận có đăng ký kết hôn hợp pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Sau khi đăng ký kết hôn chị T, anh D sinh sống tại thôn 3, xã P, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình ( nay xã P, tỉnh Ninh Bình) và đến nay anh D chị T không sống chung với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh D và chị T thì địa phương không nắm rõ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Trần Trung D là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
.Về con chung: không có do vậy Hội đồng xét xử không xem xét
.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Vũ Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí tại phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3,tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002361 ngày 29 tháng 10 năm 2025.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộivề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn đối với anh Trần Trung D. Quan hệ hôn nhân của chị Vũ Thị T và anh Trần Trung D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: không có, Tòa án không xem xét
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí tại phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002361 ngày 29 tháng 10 năm 2025.
Án xử công khai sơ thẩm chị Vũ Thị T và anh Trần Trung D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND KV3- NB; - THA tỉnh Ninh Bình; - UBND xa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ( đã ký) Lâm Thị Thanh Nhàn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn |