vanban.org

Bản án 47/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Kim H được ly hôn anh Ngô Tiến Đ.

Về con chung: Chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ có 04 con chung Ngô Minh T, sinh ngày 12/01/2007, Ngô Minh P, sinh ngày 06/10/2008, Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018, Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022. Giao con chung Ngô Minh P, Ngô Vũ Trâm A cho chị Vũ Kim H nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Minh Đức cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoa +Đạt ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Kim H được ly hôn anh Ngô Tiến Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2-HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Nhàn

2. Ông Phạm Văn Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Kim H; nơi cư trú: Số 41, tổ dân phố 5, phường An D, thành phố Hải Phòng (trước đây là tổ dân phố 5, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Tiến Đ; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường A, thành phố Hải Phòng (trước đây là tổ dân phố C, phường A, quận An Dương, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Vũ Kim H trình bày:

Chị chung sống với anh Ngô Tiến Đ trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Đồng, huyện An Dương (nay là phường An Hải), thành phố Hải Phòng số 031/2006 ngày 24/3/2006. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận, vui vẻ với nhau, từ 04 năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn va chạm cãi vã nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Đ hay uống rượu, vợ chồng nhiều lần xảy ra tranh cãi bất hòa dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng nghiêm trọng. Vì con chung hai bên nói chuyện nhiều lần nhưng thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn, chị đã tìm nhiều cách khắc phục nhưng không được. Cho đến nay, hai bên sống chung nhà việc ai người ấy làm sống ly thân. Do chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm nay chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, cuộc sống không có hạnh phúc từ lâu, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Tiến Đ.

- Về con chung: Chị và anh Ngô Tiến Đ có 04 con chung là Ngô Minh T, sinh ngày 12/01/2007, Ngô Minh P, sinh ngày 06/10/2008, Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018, Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022. Ly hôn đề nghị Tòa án giao con chung Ngô Minh P và Ngô Vũ Trâm A cho chị nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Minh Đ cho anh Đ nuôi dưỡng sau ly hôn. Về việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn chị và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Ngô Minh T đã trưởng thành, không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện chị và anh Đ đều làm tự do có thu thập đảm bảo việc nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Ngô Tiến Đ: Anh Đ đã được Tòa án nhiều lần tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Đ đến Tòa án giải quyết việc chị Vũ Kim H xin ly hôn, con chung, cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, tài sản chung nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do, không có lời khai gửi Tòa án.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Vũ Kim H được ly hôn anh Ngô Tiến Đ. Về con chung: Giao con chung Ngô Minh P, sinh ngày 06/10/2008 và Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022 cho chị Vũ Kim H nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018 cho anh Ngô Tiến Đ nuôi dưỡng sau ly hôn. Con chung Ngô Minh T đã trưởng thành, không giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Vũ Kim H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Vũ Kim H khởi kiện xin ly hôn anh Ngô Tiến Đ có nơi cư trú: Phường An Hải, thành phố Hải Phòng, chị H và anh Đ có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Đồng, huyện An Dương (nay là phường An Hải), thành phố Hải Phòng số 031/2006 ngày 24/3/2006. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị H và anh Đ vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Vũ Kim H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn đã được gia đình can thiệp giúp đỡ nhưng không khắc phục được. Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn nghiêm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Anh Đ không có quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của chị H, vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không Đ được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Vũ Kim H được ly hôn anh Ngô Tiến Đ.

Về con chung: Chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ có 04 con chung là Ngô Minh T, sinh ngày 12/01/2007, Ngô Minh Ph, sinh ngày 06/10/2008, Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018, Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022. Việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị H đề nghị Tòa án giao con chung Ngô Minh P, Ngô Vũ Trâm A cho chị H nuôi dưỡng; giao con chung Ngô Minh Đ cho anh Đ nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ không có quan điểm về nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng con chung chị H, anh Đ đều làm tự do có thu nhập, nguyện vọng con chung, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, giao con chung Ngô Minh P, sinh ngày 06/10/2008, Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022 cho chị Vũ Kim H nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018 cho anh Đ nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp. Con chung Ngô Minh T đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết, sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Vũ Kim H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, anh Ngô Tiến Đ không có quan điểm về tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết, sau này các đương sự có tranh chấp giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Chị Vũ Kim H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Kim H được ly hôn anh Ngô Tiến Đ.

2. Về con chung: Chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ có 04 con chung Ngô Minh T, sinh ngày 12/01/2007, Ngô Minh P, sinh ngày 06/10/2008, Ngô Minh Đ, sinh ngày 20/12/2018, Ngô Vũ Trâm A, sinh ngày 12/9/2022. Giao con chung Ngô Minh P, Ngô Vũ Trâm A cho chị Vũ Kim H nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Minh Đức cho anh Đ nuôi dưỡng sau ly hôn. Con chung Ngô Minh T đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

5. Về án phí: Chị Vũ Kim H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị H đã nộp (biên lai thu tiền số 0000282 ngày 23 tháng 6 năm 2025) tại Chi cục thi hành án dân sự quận An Dương (nay là Phòng thi hành án khu vực 2 thuộc thi hành án thành phố Hải Phòng). Chị Vũ Kim H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Kim H và anh Ngô Tiến Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ