vanban.org

Bản án 47/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L được ly hôn anh Vi Văn C Về con chung: Giao con là Vi Thị Quỳnh T sinh ngày 15/3/2019 và Vi Xuân L1 sinh ngày 22/9/2022 cho chị Lý Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị L- Vi Văn Chuyền"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Thu Lan

2. Bà Hà Thị Minh Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ ngày 03-3-2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28-4-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị L, sinh năm 1990. (có đơn xin xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Anh Vi Văn C, sinh năm 1989. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03-3-2025, bản tự khai, nguyên đơn chị Lý Thị L trình bày: Tôi và anh Vi Văn C được tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái vào 24/4/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được một đến hai năm đầu sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Nhưng vì thương con tôi vẫn cố gắng chịu đựng vun vén hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng không cải thiện. Mâu thuẫn căng thẳng nhất là cuối năm 2023 đến nay chúng tôi không còn sự chia sẻ với nhau, ở cùng nhà nhưng vợ chồng không có tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên tháng 5/2024 tôi đã về nhà bố mẹ tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái sinh sống cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái giải quyết cho tôi được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chúng tôi có 02 người con chung là Vi Thị Quỳnh T sinh ngày 15/3/2019 và Vi Xuân L1 sinh ngày 22/9/2022. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T và cháu L1, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Vi Văn C nhưng anh C không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

Do anh C không có mă ̣t theo thông báo của Tòa án, nên trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh C đồng thời nguyên đơn chị Lý Thị L có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Vi Văn C có đăng ký hô ̣ khẩu thườ ng trú ta ̣i thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái. Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn anh Vi Văn C đa đượ̃

c Tòa án tống đa ̣t hợp lê ̣ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vi vâ ̣y, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều

̀

227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L và anh Vi Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 24/4/2017 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo chị L trinh bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được một đến

̀ hai năm đầu sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Nhưng vì thương con chị vẫn cố gắng chịu đựng vun vén hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng không cải thiện. Mâu thuẫn căng thẳng nhất là cuối năm 2023 đến nay vợ chồng đã không còn sự chia sẻ với nhau, ở cùng nhà nhưng vợ chồng không có tình cảm. Tháng 5/2024 chị đã về nhà bố mẹ tại thôn K, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái sinh sống cho đến nay.

Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã thông báo nhiều lần nhưng anh C không đến Tòa, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời chị Lý Thị L có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Việc anh C vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án cho thấy anh C đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng của bản thân. Việc chị L và anh C sống ly thân không còn quan tâm đến nhau cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh C thực sự trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có căn cứ cho chị L được ly hôn anh C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L và anh C có 02 người con chung là Vi Thị Quỳnh T sinh ngày 15/3/2019 và Vi Xuân L1 sinh ngày 22/9/2022. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Do anh C vắng mặt không có ý kiến về việc nuôi dậy các con khi ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự ổn định về cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần giao 02 con cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Xét thấy anh C vắng mặt tại Tòa án, chị L cũng không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lý Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do anh C chưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết quan hệ về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L được ly hôn anh Vi Văn C

2. Về con chung: Giao con là Vi Thị Quỳnh T sinh ngày 15/3/2019 và Vi Xuân L1 sinh ngày 22/9/2022 cho chị Lý Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Vi Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000197 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 03-3-2025 (xác nhâ ̣n chi ̣ L đa nô ̣̃ p đủ).

4. Quyền kháng cáo: Chị Lý Thị L và anh Vi Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ