vanban.org

Bản án 47/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Quỳnh P được ly hôn ông Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Phạm Thị Quỳnh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Phạm Thị Quỳnh P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phương - NHờ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Quỳnh P được ly hôn ông Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12/3/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN,TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Sơn và ông Lê Trung Thiêng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyên Duy Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên toà: Ông Lê Kim Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Quỳnh P, sinh năm 1993.

Địa chỉ: K110/48 Phan Thanh, P. TG, Q. TK, TP. Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn PN 3, xã DT, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bà P có mặt, ông N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện lập ngày 16/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Quỳnh P trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn N tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Thạch Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng vào năm 2020. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 04/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2023 đến nay. Bà Phương nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nữa. Vì vậy, bà Phương làm đơn yêu cều Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 19/9/2020. Bà Phương có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu ông Nhờ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Tại phiên toà, bà Phương xin rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N:

Ngày 21/10/2024, Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 cho ông Nguyễn Văn N thông qua hình thức niêm yết công khai theo đúng trình tự thủ tục.

Hết thời hạn 15 ngày theo quy định tại Điều 199 BLTTDS năm 2015, ông Nguyễn Văn N không có văn bản trả lời ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Phương cũng như văn bản xin gia hạn thời hạn trả lời theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn N không đến Tòa án tham gia các phiên hoà giải nên vụ án không thể tiến hành hoà giải theo quy định.

Vì vậy, Toà án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.

Ý kiến Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật: Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án; bị đơn ông Nguyễn Văn N không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị Quỳnh P được ly hôn ông Nguyễn Văn N; giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Phạm Thị Quỳnh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Phạm Thị Quỳnh P không yêu cầu ông Nguyễn Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm:

- 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;

- 01 bản sao giấy khai sinh của các con;

- 01 bản sao Căn cước công dân;

- 01 bản sao sổ hộ khẩu;

- 01 bản chính xác nhận thông tin về cư trú;

- 02 bản chính biên bản xác minh của Tòa án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nhờ.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Quỳnh P và ông Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thạch Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng vào năm 2020 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Theo lời trình bày của bà Phương và qua xác minh tại địa phương thì có căn cứ xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Bà Phương và ông Nhờ đã không còn chung sống với nhau từ đầu tháng 05/2023 đến nay. Quá trình tố tụng, ông Nhờ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến phản hồi, không thể hiện mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Quỳnh P, cho bà Phạm Thị Quỳnh P được ly hôn ông Nguyễn Văn N.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 19/9/2020. Xét thấy cháu Dương còn nhỏ và là con gái nên cần sự chăm sóc của người mẹ hơn, mặt khác hiện nay cháu Dương do bà Phương trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phương làm nhân viên siêu thị Lotte Mart ở Đà Nẵng và có thu nhập ổn định. Ông Nhờ rất ít khi đến thăm con, không chu cấp nuôi con, không có trách nhiệm với con cái. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu Dương cho bà Phương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên toà, bà Phương xin rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Bà Phương không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Phạm Thị Quỳnh P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Quỳnh P được ly hôn ông Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Phạm Thị Quỳnh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Phạm Thị Quỳnh P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị Quỳnh P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012428 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/03/2025). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ