vanban.org

Bản án 47/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng S:

Buộc ông L.N.T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng S tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2025 là 34.761.397 (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi mốt ngàn, ba trăm chín mươi bảy) đồng làm một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 9.948.997 đồng, tiền lãi quá h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín-Lư Ngọc Tài"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng S:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/DS-ST
Ngày: 08-5-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/- Bà Lê Thị Xuân Mai

2/- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 753/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng S

Trụ sở: Số 266-268 Đường N, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông T.G.T, là người đại diện theo ủy quyền. (Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 và Giấy ủy quyền số 7691/2024/UQ-TGĐ ngày 08/11/2024).

Địa chỉ liên lạc: Lầu 6, số 278 Đường N, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông L.N.T1, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 240/23B Đường T, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng S có ông T.G.T là Người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 19/12/2015, ông L.N.T1 có ký với Ngân hàng S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ

Số thẻ

Hạn mức Ngày ký hợp đồng Lãi suất áp dụng

472074 -

Visa

15,000,000

19/12/2015

2.15%/tháng

5174

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 22.240.000 (Hai mươi hai triệu, hai trăm bốn mươi nghìn) đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26.687.122 (Hai mươi sáu triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi hai) đồng, chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước

+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước

+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước

+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ

+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ

+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 01/01/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 9.948.997 (Chín triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm chín mươi bảy) đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông T1 phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 21/3/2025 là 34.248.037 (Ba mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm ba mươi bảy) đồng. Cụ thể là: Loại thẻ Số thẻ

Nợ gốc

Lãi quá hạn

Lãi suất áp dụng

472074 -

Visa

9,948,997 24,299,040 3.225% (2.15% x150%)

5174

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T1, yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, Ngân hàng S yêu cầu Tòa án buộc ông L.N.T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/3/2025 là 34.248.037 (Ba mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm ba mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc là 9.948.997 đồng, lãi quá hạn là 24.299.040 đồng. Đồng thời, buộc ông L.N.T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Vì là khoản vay tiêu dùng nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông L.N.T1 là người vay có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn Ngân hàng S có ông T.G.T là Người đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn ông L.N.T1 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân Quận 3, quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, nhận thấy bị đơn ông L.N.T1 không thực hiện đúng thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” đã được S phê duyệt ngày 19/12/2015. Nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện bị đơn ông L.N.T1 là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện bị đơn ông L.N.T1 phải có trách nhiệm thanh toán số nợ do sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng S Visa theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” được Ngân hàng S phê duyệt ngày 19/12/2015, nên đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông L.N.T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/12/2015 và do Bị đơn có nơi cư trú tại Quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 08/5/2025, nguyên đơn Ngân hàng S có ông T.G.T là Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền xác định: “Vào ngày 19/12/2015, ông L.N.T1 có ký với Ngân hàng S (Ngân hàng S) “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và bản “Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S”. Loại thẻ của ông T1 là thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng S Visa, có số thẻ là 472074-5174, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn thời gian này là 2.15%/tháng (theo Quyết định 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Ngân hàng S phát hành tại Việt Nam). Lãi suất trong hạn sẽ thay đổi theo từng thời kỳ khi có văn bản mới của Ngân hàng S quy định. Trước khi khởi kiện ông T1, Ngân hàng S đã thực hiện thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua Thông báo khởi kiện ngày 21/9/2022 đồng thời gửi văn bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà ông T1 đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện) thế nhưng ông T1 vẫn không thực hiện việc trả nợ. Do đó, Ngân hàng S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa buộc ông T1 phải trả cho Ngân hàng S số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2025 là 34.761.397 (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi mốt nghìn, ba trăm chín mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc là 9.948.997 đồng, lãi quá hạn là 24.812.400 đồng, thanh toán ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, buộc ông T1 phải tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 09/5/2025 cho đến khi thanh toán hết dư nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Do thẻ Visa nêu trên ông T1 sử dụng với mục đích cá nhân nên Ngân hàng S chỉ yêu cầu cá nhân Ông L.N.T1 là người vay có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng. Lãi suất quá hạn = 150% x (nhân) với lãi suất trong hạn = 150% x (nhân) với 2.15%/tháng = 3.225%/tháng. (Theo Quyết định 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng S). Tiền lãi quá hạn = Lãi suất quá hạn x (nhân) với số tiền nợ gốc”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt Nguyên đơn.

. Bị đơn ông L.N.T1 đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt cũng như không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cho đến nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

. Về yêu cầu của Nguyên đơn:

Căn cứ “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” được Ngân hàng S phê duyệt ngày 19/12/2015 thì giữa chủ thẻ chính là ông L.N.T1 và bên phát hành thẻ là Ngân hàng S có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng S Visa với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2.15%/tháng.

Theo các Bảng tóm tắt sao kê và Sao kê chi tiết giao dịch của ông L.N.T1 có số căn cước công dân 023787890 do Ngân hàng S cung cấp thì ông T1 kích hoạt thẻ vào ngày 31/12/2015. Ông T1 sử dụng thẻ từ 31/12/2015 đến ngày 30/4/2017 và có thanh toán đều cho Ngân hàng S đến 31/10/2018 thì ngưng thanh toán.

Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S), ngày 01/01/2019 Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S). Thời gian chốt các giao dịch thực hiện trong tháng là vào ngày cuối cùng của mỗi tháng. Thời gian từ ngày 31/12/2015 đến 30/4/2017 số tiền các lần giao dịch mà ông T1 đã sử dụng thẻ là 22.240.000 đồng (số tiền gốc). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng S số tiền 26.687.122 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S: Ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau. Số tiền thanh toán được thanh toán cụ thể như sau: Phí trễ hạn là 2.976.307 đồng, phí vượt hạn mức là 550.000 đồng, phí thường niên là 499.000 đồng, phí rút tiền mặt là 1.369.000 đồng và lãi là 33.814.212 đồng. Sau khi trừ hết các khoản trên theo thứ tự thì số tiền gốc còn lại là 9.948.997 đồng. Tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 9.948.997 đồng x (nhân) với lãi suất quá hạn. Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 01/10/2018 đến nay là 24.812.400 đồng, áp dụng theo mức lãi suất quá hạn là 3.225%/tháng (=150% x 2.15%/tháng), căn cứ Quyết định 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Ngân hàng S phát hành tại Việt Nam về việc thay đổi mức lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng S mức lãi suất mới được áp dụng là 2.15%/tháng. Tổng cộng ông T1 còn nợ Ngân hàng S số tiền (tạm tính đến ngày 08/5/2025) là 34.761.397 đồng.

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;…”

Theo quy định tại Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (Đơn vị phát hành thẻ) kèm theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của Ngân hàng S:

+ Tại mục Phương thức thanh toán, cụ thể là:

- Tại Điều 18 quy định: “Tất cả các Giao dịch và phí phát sinh phải

được Chủ Thẻ thanh toán cho Đơn Vị Phát Hành Thẻ vào hoặc trước Ngày

Đến Hạn được ghi trên Thông Báo …”;

- Tại Điều 19 quy định về Số tiền thanh toán như sau: “Chủ Thẻ sẽ

chịu trách nhiệm thanh toán tổng Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày

Đến Hạn như được nêu trong Thông Báo hàng tháng gởi cho Chủ Thẻ…”

- Tại Điều 20 quy định về Áp dụng thanh toán như sau: “Việc thanh

toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ

trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ

trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;

Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.”

- Tại Điều 22 quy định về Cách tính lãi trong hạn như sau: “Chủ thẻ

đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên tài khoản. Lãi được tính như sau: … b)

Đối với giao dịch rút tiền mặt và giao dịch tương đương rút tiền mặt: Lãi

suất được tính từ ngày giao dịch cho đến ngày Chủ Thẻ thanh toán lại toàn

bộ số tiền đã rút.”

- Tại Điều 23 quy định về Vi phạm như sau: “Việc không thanh toán

ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp

theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ

tổng Dư Nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và Chủ Thẻ phải thanh toán.

Nếu Chủ Thẻ có nhiều hơn một Tài Khoản với Đơn Vị Phát Hành Thẻ, việc

vi phạm ở một Tài Khoản sẽ tự động được xem như là vi phạm ở những tài

khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, Đơn Vị Phát Hành Thẻ có quyền

chấm dứt tất cả các Tài khoản của Chủ Thẻ tại Đơn Vị Phát Hành Thẻ…

Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị

Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:

Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ;

Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố

áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ

Dư Nợ theo quy định của Đơn Vị Phát Hành Thẻ …”

+ Tại mục Các loại phí, cụ thể là:

- Tại Điều 24 quy định về Các loại phí như sau: “Bên cạnh lãi suất,

Chủ Thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến Thẻ, bao gồm nhưng không

giới hạn các loại phí sau đây:

(1) Phí hàng năm và phí phát hành thẻ phụ: Được thu mỗi năm một lần.

(2) Phí rút tiền mặt: Được thu khi Chủ thẻ rút tiền mặt.

…

(4) Phí thay đổi Hạn Mức: Được thu khi Chủ thẻ yêu cầu tăng hoặc giảm

Hạn Mức đã được cấp.

(5) Phí vượt quá Hạn Mức: Được tính trên số dư vượt Hạn Mức được cấp.

(6) Phí chậm thanh toán: Được thu nếu Chủ thẻ không thanh toán ít

nhất Số Tiền Tối Thiểu vào hoặc trước Ngày Đến Hạn…”

Mặt khác, tại Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 (nay là Điều 5 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phí dịch vụ thẻ thì đều quy định: Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi…

Ngân hàng S đã thực hiện thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua Thông báo khởi kiện ngày 21/9/2022 đồng thời gửi văn bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà ông T1 đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trước khi Ngân hàng S thực hiện việc khởi kiện ông T1 tại Tòa cũng như thông báo cho ông T1 biết việc Ngân hàng S khởi kiện ông (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện).

Từ những căn cứ trên, xét yêu cầu của Ngân hàng S yêu cầu Tòa buộc ông L.N.T1 phải trả cho Ngân hàng S số tiền là 34.761.397 (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi mốt ngàn, ba trăm chín mươi bảy) đồng làm một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 9.948.997 đồng, tiền lãi quá hạn là 24.812.400 đồng (tạm tính đến ngày 08/5/2025), là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466, b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Áp dụng Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;

- Áp dụng Điều 5 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo);

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng S:

Buộc ông L.N.T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng S tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2025 là 34.761.397 (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm sáu mươi mốt ngàn, ba trăm chín mươi bảy) đồng làm một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 9.948.997 đồng, tiền lãi quá hạn là 24.812.400 đồng.

Kể từ ngày 09/5/2025, ông L.N.T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh được tính theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng được Sacombank phê duyệt ngày 19/12/2015 cho đến khi thanh toán xong nợ.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L.N.T1 phải chịu 1.738.070 (Một triệu, bảy trăm ba mươi tám nghìn, không trăm bảy mươi) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng S số tiền 783.742 (Bảy trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm bốn mươi hai) đồng là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0040774 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ