vanban.org

Bản án 47/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Viết Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Viết Q 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết Q phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Viết Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47 /2024/HS-ST
Ngày: 26/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Bà Phan Thị Sâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Viết Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 6 năm 1993 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Lương Y, xã Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Viết C; sinh năm: 1969; nghề nghiệp: Làm ruộng và con bà: Lê Thị T; sinh năm: 1971; nghề nghiệp: Cán bộ; Ông, bà hiện trú tại: Thôn Lương Y, xã Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng Bình; Gia đình có 02 anh em, Lê Viết Q là con đầu trong gia đình; Vợ, con chưa có; tiền án: 03 tiền án:

Ngày 02/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt tổng hợp 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 05/2/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

1

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt tại phiên toà theo lệnh trích xuất.

- Bị hại:

Anh Trần Anh Đ – sinh ngày: 08 tháng 9 năm 2005;

Địa chỉ: Số 60 đường Cao Văn L, Tổ dân phố 7, Phường Nam L, TP Đồng H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Viết C – sinh ngày 07 tháng 01 năm 1969 ;

Địa chỉ: Thôn Lương Y, xã Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 23/02/2024, Lê Viết Q đang có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Yupiter BKS73G1-049.56 của anh Lê Viết C là bố Q, đến sân bóng đá Luxe tại Tổ dân phố 7, phường Đồng P, thành phố Đồng H, với mục đích phát hiện sơ hở của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp. Khi đến sân bóng số 03, phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 12 PROMAX của anh Trần Anh Đ để ở bên ngoài vạch kẻ sân bóng không có ai trông giữ, Q lợi dụng lúc không ai để ý đã vào trong sân lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe máy tẩu thoát, trên đường dừng lại tháo vất sim điện thoại, lấy 01 tờ tiền 500.000 đồng tiền Việt Nam phía sau ốp điện thoại cất giữ, do điện thoại bị khóa bằng mật khẩu màn hình. Sợ điện thoại có định vị bị phát hiện nên khi ngang qua cầu công viên trên đường Trần Quang Khải, Q đã vứt xuống sông Cầu Rào rồi trở về nhà tại Lương Y, Lương N, Quảng N. Số tiền có được Q tiêu xài cá nhân hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới thu giữ và trả lại xe mô tô hiệu Yamaha Yupiter BKS 73G1-049.56 số khung 136789, số máy 136793 cho anh Lê Viết C.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 27/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại IPHONE 12 PROMAX màu xanh than trị giá 14.400.000 đồng (BL 18,19).

Vật chứng vụ án: Không thu hồi được.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình Lê Viết Q đã bồi thường số tiền 15.800.000 đồng cho anh Trần Anh Đ.

2

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSĐH-KT ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Lê Viết Q ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại theo điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Q đã thực hiện. Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Viết Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Viết Q từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 24/02/2024.

Ý kiến của bị cáo Lê Viết Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi Trộm cắp tài sản đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

3

Lê Viết Q có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích. Ngày 23/02/2024, lén lút lấy trộm 01 điện thoại IPHONE 12 PROMAX và số tiền 500.000 đồng của anh Trần Anh Đ tại sân bóng đá số 03 Luxe thuộc Tổ dân phố 7, phường Đồng P, thành phố Đồng H, trị giá 14.900.000 đồng. Bị cáo đã tái phạm chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, bị cáo Lê Viết Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Đồng Hới, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Q là người trưởng thành, có sức khỏe, có nghề nghiệp nhưng không chịu tu dưỡng, làm ăn lương thiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Q nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam tư lợi cá nhân nên vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Cần xem xét bị cáo Q là người có nhân thân xấu, là đối tượng hiện có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện và tự răn mình mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo cũng là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Q đã tác động gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho bị cáo Q.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án, theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với anh Lê Viết C là bố Lê Viết Q, giao cho Q sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội nhưng không biết nên không xử lý.

4

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới thu giữ và trả lại xe mô tô hiệu Yamaha Yupiter BKS 73G1-049.56 số khung 136789, số máy 136793 cho ông Lê Viết C. Sau khi nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì và việc xử lý vật chứng vụ án nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Lê Viết Q đã bồi thường số tiền 15.800.000 đồng cho anh Trần Anh Đ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 27/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại IPHONE 12 PROMAX màu xanh than trị giá 14.400.000 đồng. Bị cáo lấy trộm 01 điện thoại IPHONE 12 PROMAX và số tiền 500.000 đồng của anh Trần Anh Đ tại sân bóng đá số 03 Luxe thuộc Tổ dân phố 7, phường Đồng P, thành phố Đồng H, trị giá 14.900.000 đồng nhưng bị cáo thừa nhận đã tác động gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bồi thường số tiền 15.800.000 đồng cho anh Trần Anh Đ. Anh Đ nhận đủ tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q, không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Viết Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Viết Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 24/02/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Viết Q 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Viết Q phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/6/2024);

5

bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ