- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa nguyên đơn Trần Thị Thúy D và bị đơn Lê Quốc P"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Hồng Quận.
2/ Bà Tạ Thị Nhuần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 413/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy D, sinh năm 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Lê Quốc P, sinh năm 1995. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 23/11/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thúy D trình bày: Chị và anh Lê Quốc P thành hôn năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T ngày 10/02/2022. Thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ tháng 02/2023 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Về con chung, chị và anh P có 01 con chung tên Lê Trần Khả H, sinh ngày 06/01/2022, hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Quốc P đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án.
Tại biên bản xác minh ngày 15/3/2024 ông Thạch N (Cha ruột anh Lê Quốc P) trình bày: Chị Trần Thị Thúy D và anh Lê Quốc P thành hôn năm 2021, sau khi thành hôn vợ chồng sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, đến lúc chị D sinh cháu Lê Trần Khả H thì về nhà cha mẹ ruột ở huyện C, tỉnh Trà Vinh ở không trở về sống chung với anh P. Ông không biết vợ chồng anh P xảy ra mâu thuẫn gì và nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng anh P nhưng chị D không trở về chung sống với anh P và vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ tháng 5/2023 đến nay. Về con chung của chị D, anh P từ trước đến nay được gia đình bên ngoại chăm sóc chu đáo, cháu phát triển bình thường.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy D vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt.
Bị đơn anh Lê Quốc P vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Thúy D được ly hôn với anh Lê Quốc P.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Trần Khả H, sinh ngày 06/01/2022 cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thúy D là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy D có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy D vắng mặt có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Quốc P vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Thúy D và anh Lê Quốc P thành hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 10/02/2022 nên xem đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình chung sống, giữa chị Trần Thị Thúy D và anh Lê Quốc P có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ tháng 3/2023 đến nay, cả hai đều không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập đương sự nhiều lần để hòa giải nhằm giúp đỡ chị D, anh P đoàn tụ nhưng anh P vắng mặt không lý do, chứng tỏ anh P không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giữa chị Trần Thị Thúy D và anh Lê Quốc P có 01 con chung là Lê Trần Khả H, sinh ngày 06/01/2022, hiện đang sống chung với chị D, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Anh P đã nhận được bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo nhưng không có ý kiến gì về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị D, anh P chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến nay cháu H do chị D và gia đình nuôi dưỡng, cháu được chăm sóc chu đáo và phát triển bình thường. Để ổn định cuộc sống của cháu H, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lê Trần Khả H, sinh ngày 06/01/2022 cho chị Trần Thị Thúy D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Trần Thị Thúy D là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không có yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Thúy D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Thúy D được ly hôn với anh Lê Quốc P.
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Trần Khả H, sinh ngày 06/01/2022 cho chị Trần Thị Thúy D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Quốc P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Thúy D có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0010922 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, chị D đã nộp đủ.
4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (GCNKH số 12 ngày 10/02/2022); - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thu Nga |