vanban.org

Bản án 47/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng. [3].Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. [4]. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. [4].Về án phí: Chị Huỳnh Th K H nộp số tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ, tuy nhiên khấu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Th H"
  • Tòa quyết gì? Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 14 /06 /2024
"V/v Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Xuyến Hội thẩm nhân dân: [1]. Ông Trần Đức Hoà. [2]. Bà Trần Thị Chín. Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: Bà Đàm Thị Thuỷ – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 18/TLST – HNGĐ, ngày 28 tháng 2 năm 2024, về việc " Ly hôn", Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 04 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Huỳnh Th K H; sinh năm 1992 ( vắng mặt ). Địa chỉ: Thôn 6, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Bị đơn: Anh Lê T Ph; sinh năm 1990 ( vắng mặt ). Địa chỉ : Thôn 6, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/03/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Huỳnh Th K H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Lê T Ph tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Vĩnh Ngãi, TP Tân An, tỉnh Long An, số đăng ký 31, ngày 25/06/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng tình cảm, hay xảy ra mâu thuẫn gia đình, anh Phú không có trách nhiệm với gia đình, vợ, con. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau nữa, mạnh ai nấy sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nay tôi làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Phú.

Về con chung: Lê Huỳnh T Q, sinh ngày 02/11/2013; Lê Q M, sinh ngày 01/11/2016, chị Hiền nhận nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu.

Bị đơn anh Lê T Ph xin Toà án giải quyết vắng mặt, qua lời khai trình bày nội dung:

Tôi đồng ý ly hôn với cô Huỳnh Th K H theo đơn khởi kiện của cô Hiền, tôi và cô Hiền có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng tình cảm, tôi đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng không được nên nay cô Hiền làm đơn yêu cầu ly hôn thì tôi đồng ý giải quyết để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Tôi và cô Hiền có 02 người con chung họ tên: Lê Huỳnh Tố Uyên, sinh năm 2013 và Lê Q M, sinh năm 2016. Tôi đồng ý giao hai con cho cô Hiền nuôi dưỡng và không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung, không có không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm khẳng định: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý đến nay là đúng. Tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tố tụng của các đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau: [1].Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định. [2].Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Chị Huỳnh Th K H có đăng ký kết hôn với anh Lê T Ph, nay chị Hường xin ly hôn, vì vậy quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp ly hôn”, theo Khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. [3].Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng, chị Huỳnh Th K H và anh Lê T Ph tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Th K H và anh Lê T Ph là hợp pháp.

Xét mâu thuẫn gia đình: Quá trình sống chung, chị Huỳnh Th K H và anh Lê T Ph đã xảy ra nhiều mâu thuẫn vợ chồng, anh Lê T Ph thừa nhận là đúng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, các bên không còn quan tâm đến nhau nữa.

Như vậy mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Huỳnh Th K H được ly hôn với anh Lê T Ph. [4]. Về con chung, vợ chồng có hai người con chung là Lê Huỳnh T Q; sinh ngày 02/11/2013; Lê Q M; sinh ngày 01/11/2016, anh Lê T Ph đồng ý giao con cho cô Hiền nuôi dưỡng, vì vậy cần giao cháu Lê Huỳnh T Q; Lê Q M cho chị Hiền chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi thành niên. Về cấp dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét. Nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét. [5].Về án phí: Chị Huỳnh Th K H nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án án phí, lệ phí Tòa án. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị Huỳnh Th K H được ly hôn với anh Lê T Ph. [2]. Về con chung, giao cháu Lê Huỳnh T Q, sinh ngày 02/11/2013; Lê Q M, sinh ngày 01/11/2016 cho chị Huỳnh Th K H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng. [3].Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. [4]. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. [4].Về án phí: Chị Huỳnh Th K H nộp số tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ, tuy nhiên khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009049 ngày 28/2/2024 ( đã nộp xong).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ