| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B R A – V NG T U | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2024/DSPT Ngày: 20-3-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng đặt cọc |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B R A – V NG T U
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang
Các Thẩm phán:
Ông Cao Xuân Long
Ông Trịnh Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Vy – Thư T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu.
- i di n i n ki m s t nh n d n t nh à a – ng Tà : Ông V Duyên Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 20-3-2024 tại Tr s T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu t
phúc thẩm công hai v án th l số: 248/2023/TLPT-DS ngày 15-11-2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do ản án d n sự s thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ ị háng cáo.
Theo các quyết định: Quyết định đưa v án ra t số 86/2024/QĐ-PT ngày 11-3-2024 giữa các đư ng sự:
1. Ng yên đơn: Bà Nguyễn Thị X sinh năm 1984 (có mặt).
Địa ch : tổ F ấp T ã P huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
2. đơn: Bà Đinh Thị H sinh năm 1959 (có mặt).
Địa ch : Tổ F ấp P ã P huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của à H: Ông Nguyễn Hiền T sinh năm 2000 (có mặt).
Địa ch : A L hu phố P thị trấn Đ huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
3. Người có q yền nghĩa vụ liên q an:
3.1. Bà Đinh Thị Thanh H1 sinh năm 1979 (có mặt).
Địa ch : tổ I hu phố P thị trấn Đ huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
3.2. Bà Nguyễn Thị Ngọc D sinh năm 1960 (có mặt).
Địa ch : tổ A hu phố T thị trấn Đ huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
3.3. Ông Nguyễn Văn B sinh năm 1959 (có mặt).
Địa ch : Ấp P ã P huyện Đ t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
3.4. Ông Nguyễn Văn H2 sinh năm 1969 (vắng mặt).
HKTT: E53 Lô B, hu phố E phường L thành phố B t nh Bà Rịa - V ng Tàu; địa ch hiện nay: Tổ A ấp P ã L thành phố B t nh Bà Rịa - V ng Tàu.
4. Người háng cáo: Bị đ n là à Đinh Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà X và ông Nguyễn Văn H2 cùng hùn tiền làm ăn chung.
Diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 xã P do bà Đinh Thị H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 ngày 21-9-2007.
Ngày 11-01-2022 ông H2 đứng tên trong hợp đồng đặt cọc nhận chuyển nhượng diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 xã P của à H nhưng vì bà H ị ệnh nên à H đã nhờ em ruột là à Đinh Thị Thanh H1 đứng tên trên hợp đồng đặt cọc án đất ngày 11-01-2022 với ông H2. Sau hi hợp đồng đặt cọc thì ông H2 đã giao 600.000.000đ tiền cọc tính trên giá trị đất chuyển nhượng là 3.900.000.000đ cho à H1.
Sau khi ông H2 hợp đồng đặt cọc với à H1 thì bà X phát hiện việc
hợp đồng này là hông phù hợp nên à X đã đến gặp trực tiếp à H để lại hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 giữa à X với à H với nội dung như cam ết trong hợp đồng ngày 11-01-2022.
Đến hạn hợp đồng chuyển nhượng đất thì ảy ra việc đất à H ị tranh chấp với người hác. Có lần à H cùng bà H1 đã đến gặp à X để trả lại tiền cọc nhưng à X hông nhận vì lúc đó à X đã nhận cọc (lướt sóng) chuyển nhượng đất đã mua của à H cho bà Dư ng Thị T1, nên bà X hông nhận lại tiền cọc 600.000.000đ của à H đưa trả đến hi hông thể làm thủ t c chuyển nhượng đất cho bà T1 được thì à X mới đ i lại tiền cọc với à H.
Nay bà X yêu cầu à H trả lại 600.000.000đ đã nhận cọc của à X và không yêu cầu tính lãi.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đinh Thị H là ông Nguyễn Hiền T trình bày:
Việc à H1 hợp đồng đặt cọc với ông H2 vào ngày 11-01-2022 như thế nào và bà H1 có nhận cọc của ông H2 hay không thì bà H hông iết.
Ngày 10-11-2022 bà H có hợp đồng đặt cọc với à X nhưng à H không nhận 600.000.000đ cọc của à X như à X trình ày thời điểm hợp đồng này có bà H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D chứng iến. Qua yêu cầu của à X thì bà H hông đồng vì à H hông nhận tiền cọc 600.000.000đ của à X.
Bà H hông nhận tiền từ à H1 nhưng à H đồng trả cho à X 350.000.000đ vì hi đất ị tranh chấp à X đã giới thiệu người đứng ra giải quyết dùm cho bà H. Bà H có đưa cho người à X giới thiệu 250.000.000đ. Hiện nay à H đang đi iện người à X giới thiệu đã nhận 250.000.000đ của à H nên bà H ch đồng trả cho à X 250.000.000đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Thanh H1 trình bày:
Khoảng 18 giờ ngày 11-01-2022 tại nhà à H1 thì giữa à H1 với ông Nguyễn Văn H2 có hợp đồng nhận cọc có sự chứng iến của vợ chồng à X ông T2, ông Võ Văn H3 (chồng à H1). Sau hi
ết thì ông H2 giao cho bà H1 600.000.000đ gọi là tiền cọc để chuyển nhượng đất. Đất chuyển nhượng do à H đứng tên nhưng hôm đó à H1 hợp đồng là vì ông H2 nói hông cần gặp à H c ng được c n à H nói ông H2 hông cần gặp chủ đất thì à H1 tên nhận tiền rồi đưa lại cho à H c ng được. Qua sáng hôm sau à H đi một mình lên nhà à H1 thì bà H1 đã đưa cho à H 600.000.000đ mà à H1 đã nhận của ông H2 vì là chị em ruột nên hông làm giấy giao trả tiền.
Sau khi bà H1 hợp đồng với ông H2 thì hông làm giấy chuyển nhượng được vì giấy đất do ông T3 (chồng à H) đứng tên nên sau hi ông T3 chết phải làm lại thủ t c thừa ế cho à H. Sau khi bà H làm giấy đứng tên đất ong thì à H nói đất ị tranh chấp với những người ung quanh nên à H1 mới nói à X gặp bà H để lại hợp đồng đặt cọc hác cho phù hợp do đó à X với à H đã lại hợp đồng đặt cọc mới vào ngày 10-11-2022.
Ông T đại diện theo ủy quyền của à H nói bà H không nhận tiền từ à H1 là hông đúng vì à H1 đã đưa tiền cho à H ngay vào uổi sáng hôm sau nhưng vì là chị em ruột nên hông làm giấy. Thực tế có lần à H1 đi cùng với à H đến gặp à X để à H trả lại tiền cọc nhưng à X hông nhận và hi đất ị tranh chấp thì à H1 và bà X đã lại hợp đồng đặt cọc mới do đó à H nói hông nhận cọc 600.000.000đ của à X là hông đúng.
Tại phiên t a s thẩm à H1 trình ày số tiền 600.000.000đ à H1 nhận từ bà X thì bà H1 đã đưa à H 450.000.000đ và c n giữ lại 150.000.000đ. Trong số tiền 450.000.000đ thì à H giữ 100.000.000đ đưa cho à D 100.000.000đ và đưa cho dịch v nhờ làm giấy X 250.000.000đ. Trong số tiền 150.000.000đ à H1 giữ thì à H1 đã ỏ ra 50.000.000đ để làm thủ t c thừa ế đất cho à H đứng tên nên bà H1 ch c n giữ 100.000.000đ. Bà H1 đồng trả lại 100.000.000đ đang giữ cho bà X, bà H phải trả lại cho à X 50.000.000đ vì 50.000.000đ à H1 làm giấy tờ cho bà H nên không còn.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Bà D với à H là chị em ạn d u phần đất à H để cho em mình là à H1 đứng ra hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng cho à X là của à D và bà H hùn nhau mua chung.
Khi bà H chuyển nhượng phần đất này thì à H để cho à H1 (em bà H) đứng ra hợp đồng và nhận cọc của phía à X thì bà H nói cho bà D iết là nhận tiền cọc 200.000.000đ và à H đưa cho à D 100.000.000đ. Đến hi đất này ị tranh chấp thì à H kêu bà D đưa 500.000.000đ để nhờ người đứng ra giải quyết nên bà D nói hông có tiền thì à H nói vậy để một mình à H lo nên giữa à H và bà D có văn ản thỏa thuận ngày 23-02-2023 là số tiền 100.000.000đ à H đưa cho bà D coi như là à H trả tiền vốn mua đất của à D và bà D không còn liên quan đến phần đất mà 2 người hùn mua chung nữa. Hiện phần đất này đứng tên à H nên bà D hông trả lại 100.000.000đ cho à H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ đã căn cứ vào các Điều 39 BLTTDS; các Điều 117 122 131 425 427 Bộ luật D n sự; điểm đ hoản 01 Điều 12 hoản 03 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 của Ủy an thường v Quốc hội tuyên :
- Chấp nhận yêu cầu h i iện của à Nguyễn Thị X về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền s d ng đất” đối với à Đinh Thị H.
- Bà Đinh Thị H có trách nhiệm trả cho à Nguyễn Thị X số tiền 450.000.000đ.
- Bà Đinh Thị Thanh H1 có trách nhiệm trả cho à Nguyễn Thị X số tiền 150.000.000đ.
Ngoài ra án s thẩm c n tuyên về lãi suất chậm trả; án phí; quyền háng cáo và thời hạn thi hành ản án theo quy định.
Ngày 13-9-2023, bà H có đơn kháng cáo ản án s thẩm với nội dung: Yêu cầu T a án phúc thẩm s a ản án s thẩm theo hướng hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đ n.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu đã tiến hành thu thập ổ sung thêm chứng cứ:
[1]. Tại Biên ản làm việc ngày 11-3-2024 của T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu thì các đư ng sự gồm à X, bà H, bà H1, bà D cho iết: Diện tích đất tranh chấp 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ là thuộc quyền s d ng chung của vợ chồng à H ông T3 và vợ chồng à D ông B nhưng do vợ chồng ông T3 bà H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền s d ng đất. Sau khi ông T3 chết thì hiện nay đã làm thủ t c thừa ế cho à H đứng tên. Bà X, bà H, bà H1, bà D đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn ộ nội dung v án. Tuy nhiên trong giải đoạn giải quyết s thẩm thì T a án cấp s thẩm hông đưa ông H2 và ông B vào tham gia tố t ng nên để có căn cứ giải quyết v án thì Tòa án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu đã yêu cầu các đư ng sự cần ổ sung thêm chứng cứ và thủ t c tố t ng theo quy định của pháp luật.
[2]. Tại “Văn ản thỏa thuận ngày 12/3/2024” giữa à X với ông Nguyễn Văn H2 và tại Biên ản làm việc đối với ông H2 ngày 12-3-2024 của T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu có nội dung:
- Bà X và ông H2 cùng nhau góp 600.000.000đ (trong đó ông H2 góp 400.000.000đ; à X góp 200.000.000đ) để đặt cọc mua diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ (đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 do cho ông Nguyễn Văn T4 bà Đinh Thị H vào ngày 21-9-2007 được ch nh l sang tên à Đinh Thị H ngày 23-5-2022) theo Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2.
- Ông H2 ác nhận sau hi việc mua án đất hông thành thì à X đã giao lại cho ông H2 400.000.000đ ( ốn trăm triệu đồng) mà ông H2 đã góp với à X để mua đất theo Hợp đồng đặt cọc 11-01-2022 giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2.
- Ông H2 ác định hiện nay ông H2 hông c n ất cứ quyền lợi và nghĩa v gì liên quan đến diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 xã P, huyện Đ và Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 được
ết giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2 c ng như Hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 được
ết giữa à Đinh Thị H với à Nguyễn Thị X. Do đó à X có toàn quyền định đoạt đối với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa à X với à H theo 02 hợp đồng đặt cọc nói trên. Ông H2 in t vắng mặt.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 20-3-2024: Các đư ng sự trong v án gồm bà X; bà H, ông T (đại diện theo ủy quyền của à H); bà H1; vợ chồng à D ông Nguyễn Văn B đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn ộ nội dung v án như sau:
[1]. Bà H và vợ chồng à D ông B cùng ác nhận các nội dung sau:
Diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ là thuộc quyền s d ng chung của vợ chồng à H ông T4 và vợ chồng à D ông B nhưng do vợ chồng ông T4 bà H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 ngày 21-9-2007.
Sau khi ông T4 chết thì ngày 23-5-2022 bà H đã được ch nh l đứng tên thừa ế trang 4 trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 ngày 21-9-2007.
Vì diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ là do bà H đứng tên quyền s d ng đất về mặt pháp l nên ngày 23-02-2023 bà D và bà H đã “Bản thỏa thuận” để cho à H đồng thời đại diện cho à D đi giải quyết các vấn đề pháp l liên quan đến diện tích đất tranh chấp 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ với người thứ a. Do đó hiện nay diện tích đất 3.281,5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ nằm trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 của UBND huyện Đ cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T4 bà Đinh Thị H ngày 21-9-2007 được ch nh l sang tên à Đinh Thị H ngày 23-5-2022 vẫn thuộc quyền s d ng chung của à H và vợ chồng à D ông B nên bà H và vợ chồng à D ông B cùng có trách nhiệm chung trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến diện tích đất này đối với người thứ a.
[2]. Bà X; bà H; bà H1; vợ chồng à D ông B thỏa thuận thống nhất hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2 và hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị H với à Nguyễn Thị X về việc thỏa thuận chuyển nhượng đối với diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ nằm trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 do UBND huyện Đ cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T4 bà Đinh Thị H ngày 21-9-2007 được ch nh l sang tên bà Đinh Thị H ngày 23-5-2022.
[3]. Bà X; bà H; bà H1; vợ chồng à D ông B thỏa thuận thống nhất giải quyết hậu quả của việc hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2 và Hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị H với à Nguyễn Thị X như sau:
[3.1]. Bà H1 có trách nhiệm giao trả 150.000.000đ (một trăm năm mư i triệu đồng) đã nhận cho à X. Bà X ác nhận à H1 đã giao trả cho à X 150.000.000đ (một trăm năm mư i triệu đồng).
[3.2]. Bà H có trách nhiệm trả cho à X 225.000.000đ (hai trăm hai mư i lăm triệu đồng).
[3.3]. Vợ chồng à D, ông B có trách nhiệm trả cho à X 225.000.000đ (hai trăm hai mư i lăm triệu đồng).
* Quan điểm của đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu:
- Việc tu n thủ pháp luật: Những người tiến hành tố t ng và những người tham gia tố t ng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tại phiên t a phúc thẩm các đư ng sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn ộ nội dung v án nên đề nghị Hội đồng t áp d ng Điều 300 Bộ luật Tố t ng d n sự s a ản án s thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án đã được thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm căn cứ vào ết quả tranh t ng tại phiên t a quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu Hội đồng t phúc thẩm nhận định:
Quá trình giải quyết s thẩm T a án cấp s thẩm hông đưa ông Nguyễn Văn H2; vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa v liên quan là có thiếu sót. Tuy nhiên, quá trình chuẩn ị t phúc thẩm thì các đư ng sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn ộ nội dung v án nên T a án nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu đã thu thập ổ sung thêm chứng cứ đã đảm ảo về mặt tố t ng.
Tại phiên t a phúc thẩm các đư ng sự trong v án gồm à X; bà H; bà H1; vợ chồng à D ông B đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn ộ nội dung v án. X t thấy nội dung thỏa thuận của các đư ng sự tại phiên t a phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện hông trái quy định của pháp luật hông vi phạm đạo đức ã hội nên Hội đồng t thống nhất với quan điểm của đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Bà Rịa – V ng Tàu s a ản án s thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự tại phiên t a phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT Đ NH
Áp d ng Điều 300 Bộ luật Tố t ng d n sự tuyên :
Công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự tại phiên t a phúc thẩm s a Bản án d n sự s thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nh n dân huyện Đ như sau:
[1]. Bà Đinh Thị H và vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B cùng ác nhận các nội dung:
Diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ là thuộc quyền s d ng chung của vợ chồng à Đinh Thị H ông Nguyễn Văn T4 và vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B nhưng do vợ chồng à Đinh Thị H ông Nguyễn Văn T4 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 ngày 21-9-2007.
Sau khi ông Nguyễn Văn T4 chết thì ngày 23-5-2022 bà Đinh Thị H đã được ch nh l đứng tên thừa ế trang 4 trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 ngày 21-9-2007.
Vì diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ là do bà Đinh Thị H đứng tên quyền s d ng đất về mặt pháp l nên ngày 23-02-2023 bà Nguyễn Thị Ngọc D và bà Đinh Thị H đã “Bản thỏa thuận” để cho à Đinh Thị H đồng thời đại diện cho à Nguyễn Thị Ngọc D đi giải quyết các vấn đề pháp l liên quan đến diện tích đất tranh chấp 3.281 5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ với người thứ a. Do đó hiện nay diện tích đất 3.281 5m2 thuộc th a 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ nằm trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 của UBND huyện Đ cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T4 bà Đinh Thị H ngày 21-9-2007 được ch nh l sang tên à Đinh Thị H ngày 23-5-2022 vẫn thuộc quyền s d ng chung của à Đinh Thị H và vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B nên bà Đinh Thị H và vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B cùng có trách nhiệm chung trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến diện tích đất này đối với người thứ a.
[2]. Bà Nguyễn Thị X; bà Đinh Thị H; bà Đinh Thị Thanh H1; vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B thỏa thuận thống nhất hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2 và hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị H với bà Nguyễn Thị X về việc thỏa thuận chuyển nhượng đối với diện tích đất 3.281,5m2 thuộc th a đất 816 tờ ản đồ 15 ã P huyện Đ nằm trong Giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AH 325897 do UBND huyện Đ cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T4 bà Đinh Thị H ngày 21-9-2007 được ch nh l sang tên à Đinh Thị H ngày 23-5-2022.
[3]. Bà Nguyễn Thị X; bà Đinh Thị H; bà Đinh Thị Thanh H1; vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B thỏa thuận thống nhất giải quyết hậu quả của việc hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 11-01-2022 đã
ết giữa à Đinh Thị Thanh H1 với ông Nguyễn Văn H2 và Hợp đồng đặt cọc ngày 10-11-2022 đã ết giữa à Đinh Thị H với à Nguyễn Thị X như sau:
[3.1]. Bà Đinh Thị H1 có trách nhiệm giao trả 150.000.000đ (một trăm năm mư i triệu đồng) đã nhận cho à Nguyễn Thị X. Bà Nguyễn Thị X ác nhận à H1 đã giao trả cho à X 150.000.000đ (một trăm năm mư i triệu đồng).
[3.2]. Bà Đinh Thị H có trách nhiệm trả cho à Nguyễn Thị X 225.000.000đ (hai trăm hai mư i lăm triệu đồng).
[3.3]. Vợ chồng Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị X 225.000.000đ (hai trăm hai mư i lăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại Khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho bên được thi hành án.
[4]. Về án phí:
[4.1]. Án phí d n sự s thẩm: Bà Đinh Thị H và vợ chồng à Nguyễn Thị Ngọc D ông Nguyễn Văn B được miễn nộp theo quy định.
[4.2]. Án phí d n sự phúc thẩm: Bà Đinh Thị H được miễn nộp theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 3 năm 2024).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
| Cao Xuân Long Trịnh Hoàng Anh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quang |