vanban.org

Bản án 47/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh đối với ông Lê Văn D, bà Hồ Bích T.

2/. Buộc ông Lê Văn D và bà Hồ Bích T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh tổng số tiền 394.218.000 đồng. 3/. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lê Văn D có nghĩa vụ nộp 9.855.000 đồng nhưng do ông D trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn, b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tân Quang Minh - Lê Văn Dũng, Trần Bích Thuận"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh đối với ông Lê Văn D, bà Hồ Bích T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS-ST
Ngày: 22/8/2024
(V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản)
[

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU

- i h nh h n i n

ơ h

:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Kim Phụng và ông Nguyễn Minh Hoàng

h

hi n a: Bà Đỗ Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện iện iể á nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L - chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh.

Địa chỉ: ấp Hiệp Đ, xã Long Điền Đ A, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trầm Thị Minh X, sinh năm 1997

Địa chỉ: ấp Cây G A, xã Long Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

2/. Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1962

Bà Hồ Bích T, sinh năm 1967

Cùng địa chỉ: ấp Cái C, xã Long Điền Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị X, ông D, bà T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 26/01/2024, trong quá trình tố tụng chị Trầm Thị Minh X – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Hộ kinh doanh Tân Quang Minh có bán thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản cho ông Lê Văn D và bà Hồ Bích T. Hai bên thỏa thuận phương thức thanh toán là đến khi thu hoạch tôm sẽ thanh toán dứt điểm công nợ cho Hộ kinh doanh Tân Quang Minh.

Trong quá trình giao dịch, Tân Quang Minh đã giao đủ thức ăn và thuốc theo đơn đặt hàng của ông D và bà T, nhưng khi thu hoạch tôm thì không thanh toán công nợ cho Tân Quang Minh, nên Tân Quang Minh đã chấm dứt giao dịch với ông Lê Văn D và bà Hồ Bích T và có đối chiếu công nợ với ông D, bà T thì còn nợ Tân Quang Minh số tiền 394.218.000 đồng. Nay Tân Quang Minh yêu cầu ông Lê Văn D và bà Hồ Bích T trả số tiền thức ăn là 394.218.000 đồng và yêu cầu lãi chậm trả trong giao đoạn thi hành án.

Bị ơn ông L ăn D và Bí h trình bày:

Vào năm 2021 vợ chồng ông bà có mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản của Hộ kinh doanh Tân Quang Minh. Khi giao dịch có làm hợp đồng mua bán với nhau và có sổ sách theo dõi khi mua thức ăn. Ông bà là người trực tiếp giao dịch với Tân Quang Minh. Hai bên thỏa thuận khi nào thu hoạch xong vụ tôm thì sẽ thanh toán hết một lần. Trong quá trình giao dịch mua bán thức ăn thì tôi trả cho Tân Quang Minh rất đầy đủ nhưng sau đó do nuôi tôm gặp khó khăn nên không có khả năng thanh toán nên Tân Quang Minh đã chấm dứt việc mua bán thức với ông bà. Hai bên đã đối chiếu công nợ với nhau ông bà còn nợ tiền thức ăn 794.218.000 đồng. Khi chấm dứt hợp đồng ông bà có thanh toán số tiền 400.000.000 đồng, nên còn nợ số tiền của Tân Quang Minh là 394.218.000 đồng.

Tân Quang Minh không bán thức ăn cho ông bà nữa nên ông bà không có điều kiện cải tạo và nuôi tôm nữa. Nay Tân Quang Minh khởi kiện yêu cầu trả số tiền trên thì ông bà cũng thống nhất, nhưng xin được trả dần.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Hộ kinh doanh Tân Quang Minh yêu cầu ông D, bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền 394.218.000 đồng. Ông D và bà T. Ông D và bà T thừa nhận nợ và đồng ý trả, đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận và buộc ông D và bà T trả số tiền trên cho hộ kinh doanh Tân Quang Minh.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông D và bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn L khởi kiện đối với ông Lê Văn D, bà Hồ Bích T về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. Ông D và bà T có hộ khẩu thường trú tại huyện Đ H, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ H.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Giữa ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh và ông Lê Văn D, bà Hồ Bích T có giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản là hoàn toàn có xảy ra trên thực tế. Khi hai bên giao dịch hợp đồng mua bán và có thỏa thuận phương thức thanh toán nợ, tuy nhiên trong quá trình giao dịch ông D, bà T đã vi phạm thỏa thuận nên hộ kinh doanh Tân Quang Minh khởi kiện yêu cầu ông D, bà T có trách nhiệm thanh toán tiền mua bán thức ăn là 394.218.000 đồng. Ông D, bà T thừa nhận nợ và đồng ý giao trả số nợ trên. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật và buộc ông D, bà T có trách nhiệm trả cho Hộ kinh doanh Tân Quang Minh số tiền 394.218.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông D có nghĩa vụ nộp 9.855.000 đồng nhưng do ông D trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn, bà Hồ Bích T có nghĩa vụ nộp 9.855.000 đồng. Hoàn lại cho ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh tiền tạm ứng án phí 9.855.000 đồng theo biên lai thu số 0010147 ngày 08/4/2024.

Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh đối với ông Lê Văn D, bà Hồ Bích T.

2/. Buộc ông Lê Văn D và bà Hồ Bích T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh tổng số tiền 394.218.000 đồng.

3/. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lê Văn D có nghĩa vụ nộp 9.855.000 đồng nhưng do ông D trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn, bà Hồ Bích T có nghĩa vụ nộp 9.855.000 đồng. Hoàn lại cho ông Nguyễn Văn L – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh tiền tạm ứng án phí 9.855.000 đồng theo biên lai thu số 0010147 ngày 08/4/2024. Các đương sự nhận và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án theo quy định tài khoản 2 Điều 468 bộ Luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ