- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Lê Van A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:47/2023/HS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:1 – Ông Đậu Đức Đông
2 – Ông Ngô Sỹ Lượng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương- Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Ông Văn Đức Châu- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số42/2023/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn A;Tên gọi khác: Lê Quang A1, Nguyễn Hoàng A2, Lê Hoàng A3; Nguyễn Hải K, Cu L; Sinh ngày 01tháng 01năm 1962tại thị xã A, tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 2/10; Dân tộc: Kinh;Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn C(Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị S(đã chết); có vợ Võ Thị Thu H(đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1988;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 28/01/ 1977, bị Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định bắt về hành
vi trộm cắp tài sản.Tạm giam Lệnh tha 763 ngày 19/11/1977
- Ngày 27/6/1981, bị Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định bắt về hành vi trộm cắp tài sản (Tạm giam 02 tháng, lệnh tha số 21 ngày 30/3/1982).
- Ngày 18/11/ 1982, bị Công an tỉnh Abắt về hành vi cướp giật tài sản hoặc Công nhiên chiếm đoạt tài sản
- Ngày 03/8/1991, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt ngày 02/9/1991đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 17/5/2002, bị Tòa án nhândân Quận I, thành phố Hồ Chí Minhxử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/11/2002, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 20/9/2005, bị Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt 03/7/2006, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 24/02/2009, bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạtngày 13/9/2010, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 25/8/ 2011, bị Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt ngày 17/5/2013, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 28/3/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt ngày 28/5/2015, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 17/12/2015, bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt ngày 29/10/2016, đương nhiên xóa án tích).
- Ngày 19/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí ngày 02/9/2020, đương nhiên xóa án tích).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023 cho đến nay.
- Người bị hại:
Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991. Vắng mặt có lý do
Trú tại: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An
Người làm chứng: Anh Trương Văn P, sinh năm 1965.Vắng mặt.
Trú tại: Khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An
Người chứng kiến:
ÔngTrần Đình H1, sinh năm1960. Vắng mặt;
Trú tại: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Ông Trương Văn P, sinh năm 1965;Vắng mặt.
Trú tại: Khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
đêm ngày 09/5/2023, tại khu vực sân vận động Bthuộc khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ Ansẽ diễn ra lễ kỷ niệm 15 năm thành lập thị xã T. Lê Văn Ađã đón xe khách từ thành phố Q, tỉnh Bình Định đến thị xã T, tỉnh Nghệ Annhằm mục đích lợi dụng sơ hở của những người đi dự lễ kỷ niệm rồi lén lút trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/5/2023, Lê Văn Ađến sân vận động Bthuộc khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ Anrồi trà trộn vào chỗ đông người tìm những người sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Lê Văn Aphát hiện anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991, trú tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ Anđang để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen ở túi quần bên trái phía trước. Lợi dụng lúc đông người chen lấn nhau, Lê Văn Adùng tay trái của mình móc vào túi quần của anh Nguyễn Ngọc Tlấy chiếc điện thoại di động nêu trên ra cầm ở tay để tẩu thoát thì bị anh Nguyễn Ngọc Tphát hiện nên Lê Văn Athả chiếc điện thoại di dộng vừa trộm cắp được của anh Txuống đất rồi bỏ chạy, thấy vậy anh Ttri hô cùng với lực lượng Công an bảo vệ lễ kỷ niệm đuổi theo và bắt giữ Lê Văn A. Sau đó, tổ công tác Công an thị xã Tđã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của anh Nguyễn Ngọc Tmà Lê Văn Achiếm đoạt (bút lục: 22 - 29, 32 - 89).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen có trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là: 6.500.000đ(Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tđã thu giữvật chứng của vụ án như sau:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số Imel: 357307090540723, bên trong có thẻ sim số thuê bao 0977.910.016 (đã qua sử dụng). Vật chứng trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc Tbị chiếm đoạt. Vì Vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc T.
Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố bị cáo Lê Văn A tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay,Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Văn Atừ 12 tháng đến 15tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn A5khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời của người bị hại; người chứngkiến trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định:Vào khoảng 20 giờ ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại khu vực sân vận động Bthuộc khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn Alợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản ở chỗ đông người đã lén lút lấy trộm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen của anh Nguyễn Ngọc Tcó trị giá là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thì bị phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, hành vi của Lê Văn Aphạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà liên tục phạm tội nên cần xét xử nghiêm. Tuy nhiên cũng xét cho bị cáo thật thà khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự.Nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.Tuy nhiên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xét thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp, tuổi caonên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Ngọc Tđã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, quá trình điều tra không có yêu cầu gì về việc bồi thườngnên Tòa án không xem xét;
Về án phí : Cần buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn A 12(mười hai ) tháng tù vềtội “ Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giamngày 09/5/2023.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc bị cáo Lê Văn Aphải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt bị hạiđược quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặcbản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; -Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |