- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Lý phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện g…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày 07-3-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung - Giáo viên hưu trí.
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ - Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L1 số: 35/2023/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXX-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Trịnh Văn L1, sinh năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm Hợp Kh, xã Ngh, H3ện Ngh, tỉnh Ngh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Minh Th, sinh năm 1937 và bà Đào Thị Kh, sinh năm 1947 (đã chết); bị cáo có 08 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1966, nhở nhất sinh năm 1986); có vợ tên Đặng Thị Th, sinh năm 1985 và có 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 1990 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Nguyễn Thanh L3, sinh năm 1968;
2. Bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: Tổ 15, ấp M, xã Mỹ H, thành phố Long X, tỉnh A.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L3 và bà Nguyễn Thị Th1: Bà Nguyễn Thị Ph1, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố Long X, tỉnh A, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/02/2023). Có mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH MTV Ngọc Lan T; trụ sở: Tổ 1, khu phố Mỹ H, phường Th, thị xã T, tỉnh B. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hồng Q1, sinh năm 1979 - Chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Cháu Nguyễn Ngọc Kim H3, sinh năm 2017;
Người đại diện hợp pháp của cháu H3: Ông Nguyễn Thanh L3, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1970; cùng địa chỉ: Tổ 15, ấp M, xã Mỹ Hoà H, thành phố Long X, tỉnh An G.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L3 và bà Nguyễn Thị Th1: Bà Nguyễn Thị Ph1, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp Mỹ Hiệp, xã Mỹ H, thành phố Long X, tỉnh An G, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/02/2023). Có mặt.
2/ Ông Võ Minh T3, sinh năm 1970; địa chỉ: K4/164B khu phố 5, phường Bửu H, thành phố Biên H, tỉnh Đ. Có mặt.
3/ Ông Hoàng Đình H3, sinh năm 1985;
4/ Bà Lê Thị Th4, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Tổ 2, khu phố 4A, phường Tr, thành phố Biên H, tỉnh Đ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
5/ Công ty Cổ phần nước tinh khiết Ốc Đảo X; trụ sở: Lô 101/2-1, đường 3B, KCN Long B (Amata), phường Long B, thành phố B, tỉnh Đồng N. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
6/ Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 35, tổ 29, khu phố 3, phường Long Bình T, thành phố B, tỉnh Đ. Vắng mặt.
7/ Bà Trịnh Thị V5, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 1, khu phố Mỹ H, phường Thái H, thị xã Tân U, tỉnh Bình D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Văn L1 có giấy phép lái xe ô tô tải hạng C, số 740071004801 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/9/2022 (có giá trị đến ngày 15/9/2027). L1 lái xe cho Công ty TNHH MTV Ngọc Lan T (gọi tắt là Công ty Ngọc Lan T) và được công ty giao cho 01 xe ô tô tải thùng biển số 61H – 084.81 để đi bốc dỡ hàng hoá. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/10/2022, L1 điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 61H-084.81 (đi một mình) từ bãi xe tại đường An Phú 20 thuộc phường A, thành phố Th, tỉnh B đến phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy hàng là gạch men, nặng khoảng 08 tấn. Sau khi bốc hàng lên xe, L1 điều khiển xe ô tô tải về bãi xe tại đường An Phú 20 thuộc phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22/10/2022, L1 điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 61H-084.81 lưu thông trên đường Mỹ Phước Tân Vạn theo hướng cầu vượt đường sắt về hướng phường An Phú ở làn giữa (đường phân chia 03 làn đường). Khi cách giao lộ ngã 4 đường Mỹ Phước Tân Vạn - đường Bùi Thị Xuân (trụ tín hiệu đèn xanh đèn đỏ) thuộc khu phố Tân Phước, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương khoảng 100 mét, L1 bật đèn xi nhan phải để đi vào làn đường xe mô tô. Sau đó, L1 tiếp tục điều khiển xe ô tô tải trên làn đường xe mô tô. Khi cách đèn xanh, đèn đỏ khoảng 20 mét, L1 nhìn thấy đèn đỏ, L1 sử dụng phanh thì phanh không còn hiệu lực nên xe ô tô tải do L1 điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 60F1-008.60 do chị Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 1990 điều khiển (hiện đang có thai khoảng 06 tháng tuổi) chở con gái là cháu Nguyễn Ngọc Kim H3, sinh năm 2017 (cháu H3 ngồi phía trước chị L2) đang dừng chờ đèn tín hiệu giao thông (đèn đỏ) trên làn đường xe mô tô làm chị L2 và cháu H3 té ngã xuống đường. Chị L2 bị xe ô tô tải thùng cán lên người, cháu H3 không bị tH3 tích gì. Sau đó, xe ô tô tải biển số 61H - 084.81 tiếp tục chạy về phía trước đụng vào xe ôtô tải thùng biển số 60C-442.33 do ông Nguyễn Xuân T1 điều khiển lưu thông trên đường Bùi Thị Xuân theo hướng Dốc Ông Thập về hướng ngã 4 Bình Trị làm xe ô tô tải thùng biển số 60C-442.33 đụng vào xe mô tô biển số 60F3-180.52 do ông Hoàng Đình H3 điều khiển lưu thông cùng chiều bên hông trái xe ô tô tải thùng biển số 60C - 442.33, dẫn đến tai nạn giao thông. Sau tai nạn, L1 đến Công an phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đầu thú về hành vi của mình.
Hậu quả, thiệt hại:
* Về người: Chị Nguyễn Thị Trúc L2 chết tại hiện trường.
* Về tài sản: 04 Xe bị hư hỏng.
Quá trình điều tra, Trịnh Văn L1 khai nhận vào ngày 21/10/2022, L1 phát hiện phanh chân của xe ô tô tải biển số 61H - 084.81 không đảm bảo (phải đạp nhồi 2 – 3 lần phanh mới có tác dụng) nhưng đến sáng 22/10/2022, L1 vẫn điểu khiển xe đi nhận hàng tại phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, L1 tiếp tục phát hiện hệ thống phanh tay của xe không còn tác dụng. Khi phát hiện như vậy, L1 không sửa chữa cũng không báo cho chủ xe để tiến hành sửa chữa mà vẫn điều khiển xe ô tô tải biển số 61H – 084.81 lưu thông trên đường dẫn đến tai nạn giao thông như trên.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22/10/2022 thể hiện như sau:
“I/ Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là giao nhau giữa đường Mỹ phước – Tân vạn và đường Bùi Thị Xuân có hệ thống đèn tín hiệu đang hoạt động bình thường.
- Mặt đường Bùi Thị Xuân được rải nhựa bằng phẳng rộng là 13m20.
- Đường Mỹ Phước – Tân Vạn mặt đường rải nhựa, có dãy phân cách cố định phân chia hai phần đường xe chạy riêng biệt (đoạn dãy phân cách đứt khoảng tại giao lộ ngã tư rộng 35m00), Chiều đường Mỹ phước – Tân vạn hướng từ Quốc lộ 1K đi An Phú mặt đường rải nhựa được phân chia ba làn đường xe chạy riêng biệt bằng vạch sơn trắng; Làn đường dành cho xe hai bánh rộng 3m60 phân chia với làn đường ô tô bằng vạch sơn trắng liền; Làn đường dành cho cách loại xe ô tô ở giữa rộng 3m60; Làn đường dành cho xe ô tô con, xe khách dưới 30 chỗ và xe tải dưới 3,5 tấn rộng 4m00 và phân chia với làn đường giữa bằng vạch sơn trắng đứt khoảng. Trên chiều đường có bảng phân chia làn đường xe chạy và biển báo cấm xe tải dưới 10 tấn thời gian từ 11h00 – 13h00 hàng ngày; Biền báo cấm xe ô tô kéo rơ mooc và xe sơ mi rơ mooc thời gian từ 6h00 – 8h00 và 16h30 – 18h30 hàng ngày.
II/ Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, pH3 tiện, tang vật, dấu vết:
- Xe ô tô tải thùng biển số 61H – 084.81 (ký hiệu 1)
- Xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 (ký hiệu 2)
- Vết cày xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 (ký hiệu 3)
- Xe ô tô tải thùng biển số 60C – 442.33 (ký hiệu 4)
- Vết sàng xe ô tô tải 60C – 442.33 (ký hiệu 5a, 5b)
- Xe mô tô biển số 60F3 – 180.52 (ký hiệu 6)
- Vết cày của xe mô tô không rõ biển số (ký hiệu 7)
- Nạn nhân chết tại hiện trường (ký hiệu 8)
- Trụ đèn tín hiệu (ký hiệu 9)
III/ Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
Lấy trụ đèn tín hiệu (ký hiệu 9) làm điểm mốc và mép bên phải đường Mỹ Phước – Tân Vạn theo hướng đường Quốc lộ 1K đi An Phú làm mép lề chuẩn.
IV/ Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, pH3 tiện, tang vật, dấu vết:
- Chiếc xe ô tô tải thùng biển số 61H – 084.81 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe dừng, đầu xe nằm trên góc bồn hoa ngã 4 và quay về hướng An phú, trục bánh trước bên trái nằm trong lề chuẩn và cách mép lề chuẩn là 0m30, trục bánh sau cách lề chuẩn là 0m40.
- Chiếc xe mô tô biển số 60F1 – 088.60 (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe ngã nghiêng bên hông phải, đầu xe quay về hướng Quốc lộ 1K, trục bánh trước cách lề chuẩn là 1m70, trục bánh sau cách lề chuẩn là 1m20 và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô tải biển số 61H – 084.81 là 1m30. Xe có để lại vết cày của mép niềng bánh sau (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trường) dài 0m80, đầu vết cày cách lề chuẩn là 0m60
- Chiếc xe ô tô tải biển số 60C – 442.33 (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe dừng, đầu xe quay vào hướng bồn hoa góc ngã 4, trục bánh trước bên phải cách lề chuẩn là 0m80 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 là 3m00, trục bánh sau bên phải cách lề chuẩn là 3m00 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 là 2m60. Xe có để lại hai vết sàng của hai bánh trước; vết sàng của bánh trước bên trái (ký hiệu 5a trên sơ đồ hiện trường) dài 3m50, đầu vết sàng cách lề chuẩn là 1m70; vết sàng của bánh trước bên phải (ký hiệu 5b trên sơ đồ hiện trường) dài 2m60, đầu vết sàng cách lề chuẩn là 1m50.
- Xe mô tô biển số 60F3 – 180.52 (ký hiệu 6 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe ngã nghiêng bên hông trái, đầu xe quay về hướng bồn hoa góc ngã 4. Trục bánh trước cách lề chuẩn là 2m10 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 là 4m70, trục bánh sau cách lề chuẩn là 3m10 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 là 4m10.
- Xe mô tô không rõ biển số, sau tai nạn đã bỏ đi khỏi hiện trường, sau tai nạn có để lại vết cày đứt khoảng (ký hiệu 7 trên sơ đồ hiện trường) dài 2m00. Đầu vết cày cách lề chuẩn là 2m70, cuối vết cày cách lề chuẩn là 3m40.
- Nạn nhân chết tại hiện trường (ký hiệu 8 trên sơ đồ hiện trường) nằm úp, dài 1m60. Đầu nạn nhân quay về hướng An Phú và cách lề chuẩn là 1m50 và cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60F1 – 008.60 là 13m50, chân nạn nhân cách lề chuẩn là 2m50 và cách cuối vết cày của xe mô tô không rõ biển số là 8m20.
- Chân nạn nhân cách điểm mốc (ký hiệu 9 trên sơ đồ hiện trường) là 3m90.”
Tại Kết luận giám định số 464/KL-KTHS(CH) ngày 28/10/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương, kết luận dấu vết và vị trí va chạm như sau:
“- Dấu vết va chạm giữa các phương tiện là:
+ Giữa xe ô tô tải biển số 61H – 084.81 và xe mô tô biển số 60F1 – 808.60:
Dấu vết trượt xước sơ màu trắng vàng, bám dính chất màu nâu đen (dạng sơn) ở cản trước, biển số trước xe ô tô tải biển số 61H-084.81, có chiều hướng từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu nâu đen, vỡ kH3ết ốp nhựa cụm đèn tín hiệu sau, tay nắm sau yên, cong ép biển số xe mô tô biển số 60F1-808.60, có chiều hướng từ sau về trước.
Dấu vết trượt xước ở cạnh trái lốp bánh trước bên trái xe ô tô tải biển số 61H-084.81, có chiều hướng từ mặt lăn vào trục phù hợp với dấu vết trượt xước, cong biến dạng, bám dính chất màu đen (dạng cao su), in hình vân lốp, hằn móp kim loại ở cạnh sau hộp xích xe mô tô biển số 60F1-808.60, có chiều hướng từ sau về trước, từ trái qua phải (khi xe mô tô đã đổ ngã qua phải).
+ Giữa xe ô tô tải biển số 61H-084.81 và xe ô tô tải biển số 60C-442.33 là: Dấu vết trượt xước, vỡ ở cạnh trái cản trước, ốp nhựa đèn tín hiệu rẽ trái trước, ốp đầu xe, thùng xe, cản dưới thùng xe bên trái xe ô tô tải biển số 61H-084.81, có chiều hướng từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, hằn kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt ngoài cánh cửa ca-bin bên phải, cụm đèn tín hiệu rẽ phải trước, vỡ gương chiếu hậu, đầu cản trước bên phải xe ô tô tải biển số 60C-442.33, có chiều từ sau về trước, từ phải qua trái.
+ Giữa xe ô tô tải biển số 60C-442.33 và xe mô tô biển số 60F3-180.52 là:
Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt trước tay lái, ốp tay lái bên phải xe mô tô biển số 60F3-180.52, có chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh ở cánh cửa ca-bin bên trái xe ô tô tải biển số 60C-442.33, có chiều hướng từ sau về trước.
Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu vàng, đen (dạng sơn) ở mặt ngoài ốp ống xả xe mô tô biển số 60F3-180.52, có chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt xước, cong ở đầu trước cản thùng xe bên phải xe ô tô tải biển số 60C-442.33, có chiều hướng từ sau về trước.
+ Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 61H-084.81 và xe mô tô biển số 60F3-180.52.
+ Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 60C-442.33 và xe mô tô biển số 60F1-808.60.
- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa các pH3 tiện là: Phần phía trước bên trái đầu xe ô tô tải biển số 61H-084.81 va chạm với phần phía sau đuôi xe mô tô biển số 60F1-808.60. Phần bên trái đầu xe ô tô tải biển số 61H-084.81 tiếp tục va chạm vào phần phía trước bên phải đầu xe ô tô tải biển số 60C-442.33. Phần phía trước bên phải xe mô tô biển số 60F3-180.52 va chạm với phần bên trái xe ô tô tải biển số 60C-442.33 tạo ra dấu vết trên các pH3 tiện.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa các pH3 tiện chiếu xuống mặt đường là: Giữa xe ô tô tải biển số 61H-084.81 và xe mô tô biển số 60F1-808.60 là: Khu vực phía trước đầu vết cày kí hiệu số 3 Sơ đồ hiện trường (theo hướng từ Quốc lộ 1K về đường ĐT743).
+ Giữa xe ô tô tải biển số 61H-084.81 và xe ô tô tải biển số 60C-442.33 là: Khu vực phía trước bên phải đầu xe ô tô tải biển số 60C-442.33 trên Sơ đồ hiện trường (theo hướng từ Quốc lộ 1K về đường ĐT 743).
+ Giữa xe ô tô tải biển số 60C – 442.33 va 2xe mô tô biển số 60F3 – 180.52 là: Khu vực bên trái đầu xe ô tô tải biển số 60C – 442.33 trên Sơ đồ hiện trường.”
Tại kết luận giám định số 73/KL-KTHS(SCKT) ngày 28/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô tải biển số 61H-084.81 như sau:
“Tại thời điểm giám định xe ô tô tải mang biển kiểm soát 61H-084.81, xác định:
Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Hệ thống phanh:
+ Hệ thống phanh chính trên xe ôtô tải thuộc loại phanh Th4 lực trợ lực khí nén, các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Hiện tại, hệ thống phanh chính mất hiệu lực phanh là do dầu phanh cạn sát đáy, gioăng cao su sẹc bô phanh trục 1,2,3 bị mòn, nhũng nhão không tạo được áp lực khi đạp phanh.
+ Phanh đỗ của xe ôtô thuộc loại cơ khí tác động trên hệ truyền lực, các cụm chi tiết hệ thống phanh đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Hiện tại bị suy giảm mất hiệu lực phanh do dây cáp dẫn động dãn.
Liền trước khi tham gia tai nạn giao thông hệ thống phanh trên xe ô tô tải không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật.
Kèm theo kết luận giám định (nếu có): Không.
Hoàn lại đối tượng giám định (nếu có) gồm: Chiếc xe gửi giám định.”
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 1094/GĐPY ngày 24/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 như sau:
“1/ Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Biến dạng đầu – mặt, vỡ biến dạng xương sọ.
+ Mô não dập rách, thoát hết ra ngoài.
+ Biến dạng vùng ngực, bụng, gãy nhiều xương sườn.
+ Dập rách hai phổi, tim dập vỡ đứt rời.
+ Gan: Vỡ gan thành nhiều mảnh.
+ Dập rách ruột, tử cung, vỡ khung chậu.
+ Tử cung chứa thai khoảng 06 tháng tuổi, thai nhi bị vỡ, đứt rời đầu và các nội tạng dập rách, thoát ra ngoài.
2/ Nguyên nhân chết: Đa chấn thương/thai nhi khoảng 06 tháng./.”
Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của tài xế Trịnh Văn L1 kết quả: 0.000mg/L; Kết quả kiểm tra các chất kích thích: Âm tính.
Tại Kết luận giám định số 6024/KL-KTHS ngày 06/12/2022 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công An kết luận: “Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần Ethanol”.
* Cháu Nguyễn Ngọc Kim H3 sau tai nạn, không bị tH3 tích và không nằm viện điều trị.
Kết luận định giá tài sản số 169/BBĐG-HĐĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự thành phố Dĩ An, kết luận: Xe ô tô tải thùng kín nhãn hiệu Isuzu, số loại QKR55H, màu sơn: Trắng, số khung: R55HF7101214, số máy: 1R8586, biển số 60C-442.33 (đăng ký lần đầu tháng 02/2015) bị thiệt hại, hư hỏng với chi phí sửa chữa số tiền là: 13.980.000đ (mười ba triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 170/BBĐG-HĐĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự thành phố Dĩ An, kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại SH Mode, màu sơn: Xanh Nâu, số khung: 5158KY003890, số máy: JF87E008558, biển số 60F3-180.52 (đăng ký lần đầu tháng 03/2019) bị thiệt hại, hư hỏng với chi phí sửa chữa số tiền là: 2.185.000đ (hai triệu một trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 171/BBĐG-HĐĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự thành phố Dĩ An, kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn: Nâu vàng, số khung: 5380EY045040, số máy: JC54H2066520, biển số 60F1-08.60 (đăng ký lần đầu tháng 07/2015) bị thiệt hại, hư hỏng với tổng chi phí sửa chữa số tiền là: 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm ngàn đồng).
Ngày 21/11/2022, Trung tâm đăng kiểm XCG 61.04D Công ty TNHH Thanh Lễ có Công văn số 24/2022/CV-61.04D trả lời về hồ sơ đăng kiểm như sau:
“1. Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 07/07/2022 pH3 tiện 61H-084.81 nhãn hiệu Hino số khung RNJFL8JTS8XX10343, số máy J08EUF-10500 có thực hiện việc kiểm định tại Trung tâm. Theo bản tường trình của Đăng kiểm viên Phan Xuân Cảnh là người trực tiếp kiểm tra hiệu quả phanh chính và phanh đỗ pH3 tiện nêu trên theo Mục 6 Phụ lục 2 Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT ngày 12/08/2021 thì pH3 tiện đủ điều kiện an toàn kỹ thuật, cụ thể:
- Về kết cấu chi tiết, cụm hệ thống thắng (phanh) đầy đủ, được lắp đặt chắc chắn. Hệ thống phanh chính là phanh khí nén - Th4 lực, hệ thống phanh đỗ là cơ khí tác động lên hệ thống truyền lực còn nguyên bản theo nhà sản xuất chưa qua quá trình cải tạo (đính kèm theo bản in nội dung cải tạo pH3 tiện).
- Khi kiểm tra pH3 tiện 61H-084.81 trên thiết bị kiểm tra phanh có kết quả kiểm - tra hiệu quả phanh và độ sai lệch lực phanh trên một trục đạt yêu cầu theo quy định tại mục 6.3.2 và 6.4.2 Phụ lục 2 Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT (kèm theo phiếu kiểm định số 16353/22):
Hiệu quả phanh toàn bộ của xe Kp là 55% (tiêu chuẩn Hiệu quả phanh toàn bộ Kp của Ô tô tải; ô tô cH3ên dùng có khối lượng bản thân lớn hơn 12.000 kg; ô tô đầu kéo; sơ mi rơ moóc; rơ moóc và đoàn xe ô tô sơ mi rơ moóc: > 45%).
Hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục Ks là 11 (tiêu chuẩn Hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục ≤ 25%).
Hiệu quả phanh đỗ trên các bánh xe là 16% (tiêu chuẩn Tổng lực phanh đỗ trên các bánh xe so với khối lượng của xe khi thử ≥ 16%).
2. Theo tường trình của Phụ trách dây cH3ền- Đăng kiểm viên Phan Đình Trường và các Đăng kiểm viên kiểm tra các công đoạn trên dây cH3ền số 1 bao gồm: Nguyễn Hoàng Tâm, Phan Xuân Cảnh, Ngô Viết Kinh thì pH3 tiện 61H-084.81 kiểm định ngày 07/07/2022 được kiểm tra theo đúng Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường pH3 tiện giao thông cơ giới đường bộ của Bộ trưởng BGTVT, có kết quả kiểm định đạt yêu cầu 05 công đoạn theo đúng quy chuẩn tiêu chuẩn hiện hành; pH3 tiện đủ điều kiện an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và không có dấu hiệu gì bất thường (đính kèm hồ sơ kiểm định xe 61H-084.81)”.
Ông Phạm Hồng Q1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty Ngọc Lan Tải xác định Trịnh Văn L1 ký kết hợp đồng lao động với Công ty Ngọc Lan Tải từ ngày 01/8/2022 đến ngày 01/8/2023, công việc được giao là lái xe ô tô tải biển số 61H-084.81. Trong quá trình làm việc nếu phát hiện xe ô tô tải biển số 61H-084.81 bị hư hỏng thì L1 phải báo cho công ty để kịp thời sửa chữa. Nhưng khi phát hiện xe ô tô tải biển số 61H-084.81 bị hư hỏng hệ thống phanh, L1 không báo cho công ty để sửa chữa mà vẫn đưa vào sử dụng. Ông Q1 không biết xe ô tô tải biển số 61H-084.81 do L1 điều khiển bị hư hỏng hệ thống phanh. Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61.04D cho biết xe ô tô tải biển số 61H-084.81 được đăng kiểm ngày gần nhất là ngày 07/7/2022 tại Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61.04D, có hiệu lực đăng kiểm đến ngày 06/01/2023, tại thời điểm đăng kiểm các thông số kỹ thuật của xe ô tô tải biển số 61H-084.81 hệ thống phanh đảm bảo và không bị thay đổi cải tạo so với thiết kế của xe. Do vậy, không có căn cứ để xử L1 đối với ông Q1 về tội “Đưa vào sử dụng pH3 tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo an toàn” quy định tại Điều 262 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trịnh Văn L1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 8 và Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) để xử phạt bị cáo Trịnh Văn L1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
* Về xử L1 vật chứng:
Đối với xe ô tô tải biển số 61H-084.81, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại cho Công ty TNHH MTV Ngọc Lan Tải do ông Phạm Hồng Q1 là người đại diện theo pháp luật nhận xe.
Đối với xe ô tô tải biển số 60C-442.33, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại Công ty Cổ phần nước tinh khiết Ốc Đảo Xanh do ông Nguyễn Văn Hiếu là người đại diện theo ủy quyền nhận xe.
Đối với xe mô tô biển số 60F1-808.60, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại cho chủ xe là ông Võ Minh T3.
Đối với xe mô tô biển số 60F3-180.52, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định trả lại cho chủ xe bà Lê Thị Th4.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trịnh Thị Vân là chị gái của bị cáo Trịnh Văn L1 và ông Phạm Hồng Q1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty Ngọc Lan Tải đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, nuôi con nhỏ với tổng số tiền là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng). Chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60F1-808.60 cho ông Võ Minh T3 với tổng số tiền là 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Thanh L3 và bà Nguyễn Thị Th1 là cha, mẹ ruột của nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 và ông Võ Minh T3 không yêu cầu gì thêm, đồng thời đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trịnh Văn L1. Bà Trịnh Thị Vân và ông Phạm Hồng Q1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ông Nguyễn Văn Hiếu đại diện chủ xe ô tô tải biển số 60C-442.33 và bà Lê Thị Th4 chủ xe mô tô biển số 60F3-180.52 xin tự nhận xe về sửa chữa sử dụng, không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa bà Ph1 là người đại diện hợp pháp của ông L3 và bà Th1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông Q1 đại diện hợp pháp của Công ty Ngọc Lan Tải có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về mức án đề nghị của Viện kiểm sát là cao quá nên đề nghị xử nhẹ cho bị cáo vì tại nạn xảy ra bị cáo đã khắc phục hậu quả.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử L1 vật chứng. Đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Đình H3, bà Lê Thị Th4 và Công ty Cổ phần nước tinh khiết Ốc Đảo X có yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông Nguyễn Xuân T1 được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định, kết luận định giá và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22/10/2022, Trịnh Văn L1 điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 61H-084.81 lưu thông trên đường Mỹ Phước-Tân Vạn thuộc khu phố Tân Phước, phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đi vào làn đường dành cho xe mô tô là đi không đúng làn đường. Đây là lỗi cố ý của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018). Ngày 21/10/2022 bị cáo đã phát hiện hệ thống phanh chân của xe ô tô tải thùng biển số 61H-084.81 không đảm bảo nhưng ngày 22/10/2022 bị cáo vẫn đưa pH3 tiện vào sử dụng; hơn nữa tại địa điểm nhận hàng (thuộc phường Tăng Nhơn Phú B, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) bị cáo L1 tiếp tục phát hiện hệ thống phanh tay của xe không đảm bảo nhưng không sửa chữa, cũng không báo cho chủ xe để tiến hành sửa chữa mà vẫn điều khiển xe ô tô tải biển số 61H – 084.81 lưu thông trên đường. Đây là hành vi đưa phương tiện không đảm bảo kỹ thuật vào tham gia giao thông đường bộ, đã vi phạm vào khoản 4 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018). Xét hai hành vi nêu trên của bị cáo là hai nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm chị Nguyễn Thị Trúc L2 đang mang thai khoảng 06 tháng tuổi tử vong tại hiện trường khi đang chờ tín hiệu giao thông (đèn đỏ). Hành vi của bị cáo L1 đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 31/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Mặc dù hậu quả của vụ tai nạn nằm ngoài mong muốn của bị cáo nhưng hành vi tham gia giao thông đi lấn làn đường và đưa pH3 tiện giao thông không đảm bảo kỹ thuật vào tham gia giao thông của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ là nguy hiểm cho xã hội.
Hiện nay, tình hình vi phạm luật giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Dĩ An diễn biến phức tạp, gây thiệt hại rất lớn đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, của xã hội. Hầu hết tai nạn xảy ra là do ý thức chủ quan của người tham gia giao thông cố tình vi phạm luật giao thông đường bộ, tạo tâm L1 lo lắng cho người dân mỗi khi tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú hành vi phạm tội, đã vận động người thân và công ty tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo khai có cha được Nhà nước tặng Huân cH3 kháng chiến. Do cha của bị cáo tuổi đã cao và đang sinh sống ở quê xa xôi nên không giao nộp được trong quá trình tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có công việc ổn định, là người lao động chính trong gia đình, chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét hành vi tham gia giao thông đi lấn làn đường và đưa pH3 tiện giao thông không đảm bảo kỹ thuật vào tham gia giao thông của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ra tai nạn giao thông làm chị Nguyễn Thị Trúc L2 (đang mang thai khoảng 06 tháng tuổi) chết tại hiện trường. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đồng thời trả lại cho bị cáo Trịnh Văn L1 bản chính Giấy phép lái xe số 740071004801, Hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/9/2022.
Về biện pháp tư pháp và xử L1 vật chứng:
- Xe ô tô tải biển số 61H-084.81, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho Công ty TNHH MTV Ngọc Lan T là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xe ô tô tải biển số 60C-442.33, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại Công ty Cổ phần nước tinh khiết Ốc Đảo X là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xe mô tô biển số 60F1-808.60, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho chủ xe là ông Võ Minh T3 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xe mô tô biển số 60F3-180.52, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho chủ xe bà Lê Thị Th4 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trịnh Thị V5 là chị gái của bị cáo Trịnh Văn L1 và ông Phạm Hồng Q1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty Ngọc Lan Tải đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, chi phí nuôi con nhỏ với tổng số tiền là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng). Chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60F1-808.60 cho ông Võ Minh T3 với tổng số tiền là 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Thanh L3 và bà Nguyễn Thị Th1 là cha, mẹ ruột của nạn nhân Nguyễn Thị Trúc L2 và ông Võ Minh T3 không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa ông Phạm Hồng Q1 đại diện Công ty Ngọc Lan T và bà Trịnh Thị Vân không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã thay bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Phạm Hồng Q1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty Ngọc Lan Tải xác định Trịnh Văn L1 ký kết hợp đồng lao động với Công ty Ngọc Lan Tải từ ngày 01/8/2022 đến ngày 01/8/2023, công việc được giao là lái xe ô tô tải biển số 61H-084.81. Trong quá trình làm việc nếu phát hiện xe ô tô tải biển số 61H-084.81 bị hư hỏng thì L1 phải báo cho công ty để kịp thời sửa chữa. Nhưng khi phát hiện xe ô tô tải biển số 61H-084.81 bị hư hỏng hệ thống phanh, L1 không báo cho công ty để sửa chữa mà vẫn đưa vào sử dụng. Ông Q1 không biết xe ô tô tải biển số 61H-084.81 do L1 điều khiển bị hư hỏng hệ thống phanh. Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61.04D xác định xe ô tô tải biển số 61H-084.81 được đăng kiểm ngày gần nhất là ngày 07/7/2022 tại Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61.04D, có hiệu lực đăng kiểm đến ngày 06/01/2023, tại thời điểm đăng kiểm các thông số kỹ thuật của xe ô tô tải biển số 61H-084.81 hệ thống phanh đảm bảo và không bị thay đổi cải tạo so với thiết kế của xe. Do vậy, không có căn cứ để xử L1 đối với ông Q1 về tội “Đưa vào sử dụng pH3 tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo an toàn” quy định tại Điều 262 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Nguyễn Văn H đại diện chủ xe ô tô tải biển số 60C-442.33 và bà Lê Thị Th4 chủ xe mô tô biển số 60F3-180.52 xin tự nhận xe về sửa chữa sử dụng, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử L1 vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là cao so với mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L1 và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 8 và Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn L1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2022.
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L1 và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trịnh Văn L1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về biện pháp tư pháp và xử L1 vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn L1 bản chính Giấy phép lái xe số 740071004801, Hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/9/2022.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01); - Phòng PV 16 CA tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dương (01); - Lưu: VT, HSVA (02) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |