- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Anh - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS-ST Ngày 12 tháng 7 năm 2023 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Hay.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Mai Như Chi
2/ Bà Nguyễn Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Tú – Kiểm sát viên.
Vào ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Quốc A, sinh năm: 1994, tại: Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Huỳnh Ngọc T; vợ: Huỳnh Thị T1; có 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 26/3/2023.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại: Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm: 1983
Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng
mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Vàng Ngọc T2 - Sinh năm: 1995
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng
mặt.
2. Ông Nguyễn Viết L - Sinh năm: 1988
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.Vắng
mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 20/3/2023, Phạm Quốc A điều khiển ghe đến khu vực biển thuộc tổ dân phố Đ, phường C, thành phố C để cho tôm ăn. Trong lúc cho tôm ăn thì Anh thấy tại lồng tôm số 04 của anh Nguyễn Xuân Q có nhiều tôm hùm xanh nên nảy sinh ý định trộm cắp. Anh mang theo vợt lưới lặn vào bên trong lồng tôm, bắt 79 con tôm hùm xanh bỏ vào trong vợt rồi đi lên thì bị phát hiện.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 43/KL – HĐĐGTS ngày 24/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 79 con tôm hùm xanh, còn sống, trọng lượng mỗi con tôm từ 200gram đến 450gram, tổng trọng lượng 18,6kg, trị giá 13.950.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 47/CT-VKSCR-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Phạm Quốc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b,h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc A từ 06 đến 09 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 cái vợt có cán bằng gỗ màu nâu dài 18cm, khung vợt bằng kim loại, phần rộng nhất 29cm, lưới vợt bằng cước màu xanh dài 1,8m. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân Q đã nhận lại tài sản bị mất, được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì về đề nghị của Đại diện viện kiểm sát; lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Nguyễn Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Q đã nhận lại tài sản bị mất, được bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng, nay không yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và những người làm chứng, tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 05 giờ ngày 20/3/2023, tại khu vực biển thuộc tổ dân phố Đ, phường C, thành phố C; Phạm Quốc A có hành vi trộm cắp 79 con tôm hùm xanh của anh Nguyễn Xuân Q, trị giá 13.950.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phạm Quốc A đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Xuân Q. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục cho bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại nên áp dụng quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét thấy, bị cáo Phạm Quốc A có nhân thân tốt, có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Quốc A đủ điều kiện hưởng án treo, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng đủ cho bị cáo có khả năng tự cải tạo. Điều này vừa có tính răn đe, giáo dục vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, được bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng, nay không yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: 01 (một) cái vợt có cán bằng gỗ màu nâu dài 18cm, khung vợt bằng kim loại, phần rộng nhất 29cm, lưới vợt bằng cước màu xanh dài 1,8m là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về điều luật áp dụng và hình phạt
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc A 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản", thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/7/2023.
Giao bị cáo Phạm Quốc A cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) cái vợt có cán bằng gỗ màu nâu dài 18cm, khung vợt bằng kim loại, phần rộng nhất 29cm, lưới vợt bằng cước màu xanh dài 1,8m theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Cam Ranh; - Cơ quan CSĐT - Công an TP. Cam Ranh; - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ - TP. Cam Ranh; - Chi cục THA dân sự TP. Cam Ranh; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Hay |