- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Khuất Duy S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS-ST; Ngày 20-6-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Học.
+ Ông Lê Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
*Khuất Duy S, sinh năm 2000; Trú tại: Thôn , xã Phúc H, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Khuất Duy B, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có
- Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2023 đến ngày 27/02/2023, được tại ngoại về địa phương; Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
*Người bị hại: Chị Vũ Thị Phương L, sinh năm 2006
Người đại diện theo pháp luật của chị Lh: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1976 (Mẹ chị Linh) Cùng địa chỉ: Thôn , xã Trạch Mỹ Lc, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Đều có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Đàm Mạnh Cg, sinh năm 1997, Địa chỉ: Thôn , xã Sen Phng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Ông Khuất Duy B, sinh năm 1964, Địa chỉ: Thôn , xã Phúc H, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
*Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn Lh, sinh năm 2004, Địa chỉ: Thôn , xã Sen Png, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 17/02/2023, Khuất Duy Sn (sinh năm 2000, trú tại thôn , xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội) một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y3 – 3 từ nhà đến ngã tư gạch thuộc thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội. Khi đi qua ngã tư gạch khoảng 200m hướng về xã Trạch Mỹ Lc, huyện Phúc Thọ, thấy chị Vũ Phương L (sinh năm 2006, trú tại xã T, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội) một mình điều khiển xe đạp điện đi ngược chiều của S, vừa đi vừa sử dụng điện thoại nên S nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sn vòng xe quay lại đi theo L. Khi đi đến xưởng thiết bị chăn nuôi Hòa N (nằm trên đường quốc lộ 32 hướng Hà Nội – Sơn Tây) thuộc t, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, S thấy tay phải Lh lái xe còn tay trái vẫn sử dụng điện thoại (kết quả điều tra, xác định là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 128Gb, có bọc ốp màu đen), quan sát xung quanh thấy đường vắng, không có người qua lại, S liền tăng ga điều khiển xe đi về phía bên phải của Lh. Sn lái xe tay phải, tay trái giật chiếc điện thoại của L rồi để điện thoại vào giỏ xe phía trước, tăng ga phóng xe bỏ chạy về nhà theo đường liên xã Thọ Lộc, Phúc Thọ.
Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, S về nhà vào phòng riêng tháo bỏ sim điện thoại để ở đầu giường ngủ, xóa bỏ hết các dữ liệu bên trong điện thoại, do không biết tài khoản Icloud trên máy nên S vẫn để nguyên. Đến ngày 18/02/2023, S mang điện thoại bán cho anh Nguyễn Văn Lh (sinh năm 2004, trú tại thôn , xã Sen Phương, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội) là nhân viên cửa hàng sửa chữa điện thoại Sơn Tây với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), số tiền này S cất ở đầu giường ngủ.
Hậu quả: chị Vũ Phương L bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 12Gb, ốp đeo bên ngoài màu đen.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, chị Lh đến công an thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ để trình báo sự việc. Nhận được tin báo, Công an thị trấn Phúc Thọ phối hợp cùng Cơ quan CSĐT công an huyện Phúc Thọ tiến hành rà soát đối tượng nghi vấn. Qua rà soát, thấy Khuất Duy S – sinh năm 2000, trú tại thôn , xã Phúc Hòa, Phúc Thọ, tp Hà Nội có nhiều đặc điểm giống đối tượng nghi vấn. Cơ quan CSĐT, tiến hành triệu tập S lên làm việc, tại cơ quan điều tra đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình ngày 17/02/2023 và tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y3 – 319smà Sn sử dụng làm phương tiện cướp giật tài sản.
Ngày 18/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phúc Thọ cho Khuất Duy S và chị Vũ Phương L chỉ dẫn hiện trường nơi xảy ra sự việc, kết quả: chị L và S chỉ dẫn hiện trường phù hợp nhau, hiện trường nơi xảy ra sự việc được xác định, trước xưởng thiết bị chăn nuôi Hòa Ninh thuộc thị trấn Phúc Thọ, Phúc Thọ, tp Hà Nội.
Cùng ngày, CQ CSĐT cho Khuất Duy S chỉ dẫn hiện trường nơi tiêu thụ tài sản, xác định là cửa hàng mua, bán điện thoại Phùng Khắc Khoan, Quang Trung, Sơn Tây, Hà Nội, chủ cửa hàng là anh Đàm Mạnh C. Tại đây, anh Cg tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 12Gb, ốp đeo bên ngoài màu đen.
Cùng ngày, CQ CSĐT Công an huyện Phúc Thọ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Khuất Duy S tại thôn 7, xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Kết quả khám xét, thu giữ:
+ 01 (một) sim điện thoại của nhà mạng Vinaphone, số seri 898402000; 11266422656 ở thành giường ngủ của S. Sn khai nhận, đây là sim Sơn tháo ra từ chiếc điện thoại di động Iphone 11.
+ Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/2023/KL – HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của hội đồng định giá huyện Phúc Thọ kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng, trị giá 7.333.000 đồng (Bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
* Về vật chứng, bồi thường dân sự:
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 128Gb, có đeo ốp điện thoại màu đen đã qua sử dụng và 01 (một) sim điện thoại của nhà mạng Vinaphone, số seri 898402000; 11266422656, xác định tài sản thuộc sở hữu của chị L. Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản trên cho chị Lh, sau khi nhận lại tài sản chị Li không có yêu cầu hay đề nghị gì về dân sự.
- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y3 – . Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của ông Khuất Duy B (sinh năm 1964, trú tại thôn , xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội – bố của Khuất Duy S). Ngày 17/02/2023, ông B để chiếc xe máy trên ở nhà (xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa xe), không biết việc S sử dụng xe này để làm phương tiện cướp giật tài sản. Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu thông tin cơ sở dữ liệu xe vật chứng, kết quả: xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên CQCSĐT đã trả lại chiếc xe trên cho ông Bào. Sau khi nhận lại tài sản, ông Bào không có yêu cầu hay đề nghị gì về dân sự.
- Đối với số tiền 2.000.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành, chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự.
- Đối với anh Đàm Mạnh C (sinh năm 1997, là chủ cửa hàng mua, bán, sửa chữa điện thoại và anh Nguyễn Văn L là nhân viên cửa hàng điện thoại, đã mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 128Gb của Khuất Duy Sơn. Khi mua chiếc điện thoại này, anh Cường và anh Linh hoàn toàn không biết đó là tài sản Sơn phạm tội mà có, do đó không có căn cứ để xác định anh Cường và anh Linh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS. Đến nay, anh Cường và anh Linh không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 05 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Khuất Duy S về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điểm d, Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Sơn. Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 5 năm.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải phí hình sự sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ thu giữ của bị cáo Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung vụ án:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 17/02/2023, Khuất Duy S đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y3 – 319.19 đi trên Quốc lộ 32 trước xưởng thiết bị chăn nuôi Hòa Ninh thuộc tổ dân phố số 6, thị trấn Phúc Thọ, Phúc Thọ, tp Hà Nội, thấy chị Vũ Phương L (sinh năm 2006, trú tại xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội) sơ hở trong quản lý tài sản, một tay lái xe, một tay sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 128Gb (theo kết luận định giá tài sản, chiếc điện thoại trên trị giá 7.333.000 đồng) nên Sơn nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại nêu trên. Sơn quan sát xung quanh thấy đường vắng, nên điều khiển xe đi về phía bên phải của Linh, tay phải Sơn lái xe, tay trái giật chiếc điện thoại của chị Linh rồi tăng ga phóng xe bỏ chạy. Đến ngày hôm sau, Sơn bán chiếc điện thoại nêu trên với giá 2.000.000 đồng, số tiền này Sơn cất ở đầu giường ngủ và bị thu giữ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo S đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội bột phát, hành vi giản đơn, hậu quả hạn chế. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng rõ các tình tiết trong vụ án, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng kết thúc vụ án; bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, t, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời có nơi cư trú rõ ràng và việc cho bị cáo được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội là phù hợp.
Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về những người liên quan trong vụ án:
- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y3 – 319.19 bị cáo Sơn sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của ông Khuất Duy Bào (Bố bị cáo Sơn). Ngày 17/02/2023, ông Bào để chiếc xe máy trên ở nhà (xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa xe), không biết việc Sơn sử dụng xe này để làm phương tiện cướp giật tài sản. Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu thông tin cơ sở dữ liệu xe vật chứng, kết quả: xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên CQCSĐT đã trả lại chiếc xe trên cho ông Bào.
- Đối với anh Đàm Mạnh Cường là chủ cửa hàng mua, bán, sửa chữa điện thoại Apple Center và anh Nguyễn Văn Linh là nhân viên cửa hàng điện thoại, đã mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của bị cáo Sơn. Khi mua chiếc điện thoại này, anh Cường và anh Linh hoàn toàn không biết đó là tài sản Sơn phạm tội mà có, do đó không có căn cứ xác định anh Cường và anh Linh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS. Ghi nhận việc anh Cường không có yêu cầu gì về phần dân sự.
Về xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp: Đối với 2 triệu đồng thu giữ của bị cáo Sơn là tiền thu lời bất chính nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm b, t, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Khuất Duy S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Khuất Duy S 03 năm (Ba) tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
*Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội theo Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ của Công an huyện Phúc Thọ ngày 23/6/2023).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi họ cư trú.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - CCTHADS huyện Phúc Thọ; - Công an huyện Phúc Thọ; - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hải |