- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS-PT Ngày: 08/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Ngô Đê
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLPT-HS ngày 27/6/2023 đối với các bị cáo Lê Văn Th, Thạch H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1/ Lê Văn Th, năm 1978, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B, sinh năm: 1950 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm:1955, có v và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng ngăn ch n biện pháp cấm đi kh i nơi cư trú từ ngày 16/02/2023 cho đến nay (vắng m t).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Th : Luật sư Nguyễn Thư ng V -Văn phòng Luật sư V thuộc đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh (vắng m t).
2/ Thạch H, sinh 1981, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khmer; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Si P, sinh năm: 1953 và bà Kim Thị R, sinh năm: 1953; có v và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú từ ngày 16/02/2023 cho đến nay (có m t).
- Người phiên dịch: Ông Thạch V, công tác tại Trường trung học cơ sở P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có m t).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, bị cáo Lê Văn Th và bị cáo Thạch H, là công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giày da P đang làm công việc tại kho thành phẩm thì bị cáo Th rủ bị cáo H lấy trộm dây điện, loại CV70 tại kho thiết bị, đem bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo H đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhân viên kho thiết bị ra về, bị cáo Th và bị cáo H đến bành đựng dây điện, loại CV70 ở trong kho thiết bị để cắt dây điện. Khi đó, bị cáo Th và bị cáo H sử dụng kiềm cắt sắt của công ty, rồi thay nhau cắt và cuộn lại thành 04 (bốn) cuộn, trong quá trình cất giấu dây điện, loại CV70, bị cáo H thấy có 01 (một) cuộn dây điện, loại CVV 2 x 1.5mm nên lấy cột chung với 01 (một) cuộn dây điện, loại CV70. Sau đó, bị cáo Th và bị cáo H cất giấu các cuộn dây điện trên vào thùng sắt gần đó rồi cả hai đi về nhà.
Đến khoảng 15 giờ ngày 09/12/2022, bị cáo Th g p bị cáo H nói với bị cáo H làm công việc, còn bị cáo Th chở dây điện cất giấu vào trạm điện số 03 nên bị cáo Th điều khiển xe đạp, hiệu Martin, màu xanh, đến kho thiết bị mở thùng sắt lấy tất cả các cuộn dây trên chở cất giấu vào bên trong trạm điện số 03 Sau đó, cả hai bị cáo tiếp tục đi làm công việc.
Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, khi công nhân của công ty ra về hết, bị cáo Th và bị cáo H quay lại trạm điện số 03, bị cáo Th đứng lên thành cửa sổ của trạm điện, còn bị cáo H bên trong đưa từng cuộn dây điện cho bị cáo Th ném ra bên ngoài hàng rào của công ty. Sau khi ném xong, bị cáo Th và bị cáo H chia ra đi tắt máy hơi. Trên đường đi ngang gara xe tải, bị cáo Th phát hiện 02 (hai) bóng đèn Led, loại 50W, không ai quản lý nên bị cáo Th lấy b vào rỗ xe rồi điều khiển xe đạp đến hàng rào ném ra bên ngoài cất giấu chung với các cuộn dây điện. Trong quá trình bị cáo Th điều khiển xe đạp chở bóng đèn thì anh Huỳnh Phương K là nhân viên bảo vệ của công ty nhìn thấy nghi ngờ bị cáo Th lấy trộm tài sản của công ty nên anh K theo dõi và phát hiện tài sản công ty nằm bên ngoài hàng rào nên anh K thông báo cho anh Lê Hoài D là nhân viên bảo vệ của công ty biết. Đồng thời, anh D thông báo cho anh Lê Vũ H đang trực chốt gần đó khi nào phát hiện có đối tư ng đến gần vị tr tài sản thì báo cho anh D biết.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo H sử dụng điện thoại di động, hiệu Vivo, có số thuê bao 0392.199.778 điện thoại vào điện thoại di động, hiệu OPPO, có số thuê bao 0333.224.067 để kêu bị cáo Th đến nhà bị cáo H, chở bị cáo H đến hàng rào ph a sau công ty lấy tài sản đã cất giấu. Khoảng 05 phút sau, bị cáo Th điều khiển xe mô tô, hiệu Honda, loại Wave anpha, biển kiểm soát 84K5-9841 đến chở bị cáo H, khi đi bị cáo H chuẩn bị 02 (hai) cái bao, màu đ . Sau đó, bị cáo Th chở bị cáo H đến bờ kênh ph a sau công ty thì anh Hải phát hiện nên báo cho anh D biết.
Khi đến gần vị tr để tài sản, bị cáo Th và bị cáo H dựng xe trên bờ kênh rồi bơi qua kênh đến vị tr cất giấu tài sản. Khi đó, anh D cùng anh K theo dõi, nhìn thấy bị cáo H đến lấy dây điện. Khi bị cáo H đang cầm dây điện trên tay thì anh D kêu “H, H”, bị cáo H b dây điện lại, bơi qua kênh b chạy cùng bị cáo Th, anh D và anh K đuổi theo nhưng không đuổi kịp nên anh D trình báo Công an xã T để xác minh làm rõ.
Qua xác minh, cơ quan Công an xác định bị cáo Lê Văn Th và bị cáo Thạch H lấy trộm tài sản của công ty nên mời làm việc. Qua làm việc, các bị cáo đã thừa nhận hành vi lấy trộm 04 (bốn) cuộn dây điện, loại CV70, dài 81,8m, có v nhựa, màu đen, riêng bị cáo Th lấy trộm 02 (hai) bóng đèn Led, loại 50W, bị cáo H lấy trộm 01 (một) cuộn dây điện, loại CVV 2 x 1.5mm, dài 11,8m, có v nhựa, màu đen của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giày da P.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị 81,8 mét dây điện, loại CV70, dây tròn, nhựa bọc bên ngoài màu đen, bên trong có 19 s i dây đồng, theo giá thị trường ngày 09/12/2022, có giá trị là 15.951.000 đồng. Giá trị 11,8 mét dây điện đôi, loại CVV 2x1.5mm, theo giá thị trường ngày 09/12/2022, có giá trị còn lại là 84.960 đồng. Giá trị 02 bóng đèn pha Led cao áp loại 50W, theo giá thị trường ngày 09/12/2022, có giá trị còn lại là 950.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.985.960 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th, bị cáo Thạch H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn Th số tiền là 5.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Thạch H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án ph , xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/05/2023, bị cáo Lê Văn Th kháng cáo xin đư c hưởng án treo.
Ngày 23/05/2023, bị cáo Thạch H kháng cáo xin đư c hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Thạch H thừa nhận án sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đúng với hành vi đã thực hiện, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ mới. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo Lê Văn Th làm đơn với nội dung xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, đơn kháng cáo của các bị cáo xét thấy: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo Lê Văn Th đã tự nguyện làm đơn gởi đến Tòa án cấp phúc thẩm với nội dung xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th là tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th.
Tại phiên hôm nay bị cáo Thạch H lời trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 09/12/2022 bị cáo cùng bị cáo Lê Văn Th lấy trộm 04 (bốn) cuộn dây điện, loại CV70, dài 81,8m, có v nhựa, màu đen. Ngoài ra, bị cáo tự lấy 01 (một) cuộn dây điện, loại CVV 2 x 1.5mm, dài 11,8m, có v nhựa, màu đen. Như vậy, tổng trị giá tài sản mà bị cáo Thạch H chiếm đoạt với số tiền 16.035.960 đồng. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Thạch H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt án sơ thẩm xử phạt bị Thạch H 06 tháng tù là đã đánh giá đúng t nh chất vụ án, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đ c biệt mới. Từ những phân t ch trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Thạch H giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Lời nói sau của bị cáo Thạch H: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo đư c hưởng án treo để bị cáo lo cho con và chăm sóc v bị cáo đang bị bệnh đi lại rất khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên đư c Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th: Hội đồng xét xử nhận thấy; sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo Lê Văn Th đã tự nguyện làm đơn gởi đến Tòa án cấp phúc thẩm với nội dung xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th là tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch H: Hội đồng xét xử nhận thấy; tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận khoảng 15 giờ ngày 09/12/2022 bị cáo cùng với bị cáo Lê Văn Th lấy trộm 04 (bốn) cuộn dây điện, loại CV70, dài 81,8m, có v nhựa, màu đen, ngoài ra bị cáo H tự lấy 01 (một) cuộn dây điện, loại CVV 2 x 1.5mm, dài 11,8m, có v nhựa, màu đen của Công ty giày da P. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo Thạch H chiếm đoạt với số tiền 16.035.960 đồng. Do đó bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Thạch H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét về mức hình phạt Tòa án án sơ thẩm xử bị cáo Thạch H 06 tháng tù là đã xem xét, đánh giá một cách toàn diện, khách quan t nh chất vụ án vai trò của bị cáo cũng như bị cáo Lê Văn Th trong vụ án, khi xét xử Tòa án cấp sơ đã áp dụng cho bị cáo hết các tình tiết giảm nhẹ, hình phạt cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nên không n ng đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận biết rất rõ lấy trộm tài sản người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, để có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ch cho gia đình, cho xã hội, yêu cầu phục vụ nhiệm vụ ch nh trị tại địa phương và phòng ngừa các loại tội phạm hiện nay, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù h p với hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả bị cáo gây ra, tại phiên tòa hôm nay bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đ c biệt mới. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin đư c hưởng án treo của bị cáo Thạch H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Từ những nhận định và phân t ch nêu trên, xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù h p với tình tiết khách quan của vụ án, nên đư c chấp nhận.
Về án ph : Do kháng cáo của bị cáo Thạch H không đư c chấp nhận nên bị cáo phải chịu án ph hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
U T ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu rút đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch H.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2023/HS-ST, ngày 12/05/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Thạch H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Thạch H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án ph phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 12, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Thạch H phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Trà Vinh; - TAND T; - VKSND T; - Cơ quan THAHS huyện T; - Cơ quan CSĐT huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |