- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự tuyên phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH H NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HS - PT Ngày: 25 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH H NAM
- THnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn San và ông Nguyễn Đức Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh H Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh H Nam mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2023/TLHS-PT ngày 05/9/2023 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh H Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thị xã D, tỉnh H Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng T (đã chết) và bà Trần Thị V; vợ: Nguyễn Thị H; con: Có 03 con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện P, THnh phố H xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ”, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 06/3/2023 đến ngày 15/3/2023 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H Nam, có mặt.
Bị hại không có kháng cáo: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Nhất H, xã T, thị xã D, tỉnh H Nam; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo:
- Ông Phạm Chí O, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh H Nam; vắng mặt.
- Anh Phạm Chí Nh, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh H Nam; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thị xã D, tỉnh H Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Phạm Thị H là bạn Nguyễn Tuấn A nên chị có nói cho Tuấn A biết vào ngày 18/8/2022, chị điều khiển xe ô tô BKS 90C - 076.72, gây tai nạn giao thông và làm chết 01 người hiện đã bị khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau đó, Nguyễn Tuấn A hỏi chị H đã nhờ ai xin án treo cho chưa, nếu chưa nhờ ai thì Tuấn A nhờ người xin cho chị H được án treo. Sau đó, Nguyễn Tuấn A nhắn tin và gọi điện cho chị H với nội dung là đã nhờ được người chạy án treo cho chị H với chi phí là 60.000.000 đồng sẽ được 06 - 09 tháng tù treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Chị H đồng ý và nhờ Tuấn A xin án treo cho mình.
Đến 14 giờ 20 ngày 07/9/2022, Nguyễn Tuấn A nhắn tin cho chị H với nội dung là “Dưới nhà có sẵn tiền mặt không, cho vào túi đen mang xuống chỗ đối diện Viện kiểm sát cho tao, tao đang ngồi quán nước dưới đó” và hẹn chị H 15 giờ cùng ngày có mặt ở quán nước đối diện Viện kiểm sát thị xã D. Do tin tưởng Tuấn A có quan hệ và xin được án treo cho mình nên chị H đã vay của bố đẻ là ông Phạm Chí O số tiền 60.000.000 đồng, gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, rồi cho vào 01 chiếc túi nilon màu đen và nhờ anh trai là Phạm Chí Nh chở đến quán nước đối diện Viện kiểm sát thì thấy Tuấn A đang ngồi một mình trong quán nước. Chị H và anh Nh đi vào trong quán nước ngồi cùng với Tuấn A. Tại đây, Nguyễn Tuấn A nói với chị H “Có đủ 60.000.000 đồng chưa, có bọc túi bóng đen không”, chị H nói “Đây, đủ 60.000.000 đồng đấy” rồi lấy 60.000.000 đồng được bọc trong túi nilon màu đen từ trong túi áo chống nắng của mình ra đưa cho Tuấn A. Tuấn A cầm túi tiền chị H đưa ở tay trái đi vào trong trụ sở Viện kiểm sát thị xã D, rồi đi vào trong nhà vệ sinh nam ở tầng 01, lấy số tiền 60.000.000 đồng cất giấu vào túi quần mình đang mặc, vứt chiếc túi nilon màu đen trong nhà vệ sinh và đứng ở đó khoảng 10 phút thì quay ra, nói với chị H và anh Nh “Xong việc rồi giờ về nhà đợi thông tin thôi” thì cả ba người cùng đi về.
Đến ngày 09/9/2022, Nguyễn Tuấn A tiếp tục gọi điện hỏi vay chị H số tiền 50.000.000 đồng để đi đặt cọc đất, hẹn hôm sau sẽ trả. Chị H đồng ý và nhờ anh Nh chuyển khoản 50.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng Vietcombank của Nguyễn Tuấn A là 0901000063183. Sau đó, Tuấn A chỉ đặt cọc đất 30.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng ăn tiêu hết. Thấy Nguyễn Tuấn A không trả tiền mình như đã hứa nên chị H nhiều lần đòi Nguyễn Tuấn A trả 50.000.000 đồng nhưng Nguyễn Tuấn A không trả. Khi không mua được đất, Nguyễn Tuấn A mất 10.000.000 đồng tiền phí đặt cọc, bên nhận cọc trả lại Tuấn A 20.000.000 đồng. Lúc này, Tuấn A mới chuyển khoản trả chị H 10.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng ăn tiêu hết.
Ngày 15/11/2022, chị H bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh H Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên nhiều lần chị đòi Tuấn A tiền chạy án treo nhưng Tuấn A không trả nên chị H đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Tuấn A đến Công an thị xã D, tỉnh H Nam.
Vật chứng thu giữ gồm: Chị Phạm Thị H giao nộp 125 tờ giấy A4 là hình ảnh tin nhắn giữa chị và Tuấn A; 01 file ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị và Tuấn A. Thu của Nguyễn Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI1: 868926054996209/78, số IMEI2: 868926054996209/18; 223 tờ A4 là hình ảnh nội dung tin nhắn trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và chị Phạm Thị H, có chữ ký của Tuấn Anh.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn A, thu giữ: Tại ngăn tủ bàn máy tính: 01 bản sao kê tài khoản ngân Hng Vietcombank số 0901000063183 của Nguyễn Tuấn A từ ngày 01/9/2022 đến ngày 26/10/2022; 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0901000063183 của Nguyễn Tuấn A từ ngày 26/10/2022 đến ngày 02/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Tuấn A đã trả đủ chị H 60.000.000 đồng và chị H không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh H Nam quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Nguyễn Tuấn A 03 (Ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/8/2023, bị cáo Nguyễn Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H Nam: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tuấn A; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh H Nam về phần hình phạt tù, án phí bị cáo không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tuấn A kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do có ý định chiếm đoạt tiền của chị Phạm Thị H để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên khi biết chị H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Nguyễn Tuấn A đã đưa ra thông gian dối không đúng sự thật về việc có quen biết và đã nhờ được người lo cho chị H được hưởng án treo, chi phí 60.000.000 đồng làm cho chị H tin là thật nên khoảng 15 giờ ngày 07/9/2022, tại quán nước đối diện cổng Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, chị H đưa cho Nguyễn Tuấn A 60.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền Tuấn A đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 15/11/2022, chị H bị Tòa án nhân dân thị xã D xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên đã trình báo Công an thị xã D về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Tuấn A.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Như vậy, bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tuấn A, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có phần nghiêm khắc; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, bản thân bị cáo đã nộp toàn bộ án phí sơ thẩm đây là tình tiết mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên toà. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tuấn A; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HS - ST ngày 28/7/2023 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh H Nam về phần hình phạt.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Tuấn A đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số AA/2021/0002958 ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục thi Hnh án dân sự thị xã D, tỉnh H Nam được đối trừ trong quá trình thi hành án.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam; - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam; - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam; - TAND, VKSND thị xã D; - Công an thị xã D; - Chi cục THADS thị xã D; - Bị cáo, bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Công Đoàn |