vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Q ly hôn anh Nguyễn Thế N.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013 cho chị Phùng Thị Q đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác, anh N không phải cấp dƣỡng nuôi con và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không xem xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị Q và Nguyễn Thế N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Q ly hôn anh Nguyễn Thế N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Bạn.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cƣờng- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 194/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 26 ngày 22/8/2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ: KDC BT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1977.

Địa chỉ: KDC BT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Phùng Thị Q trình bày: Chị Quyên và anh Nguyễn Thế N ngƣời cùng quê, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng H ngày 28/3/2012 và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị Q về nhà anh N chung sống. Quá trình chung sống vợ hòa thuận đƣợc thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh N là con một nên đƣợc chiều chuộng, sống không quan tâm chăm lo cho chị Q. Khi chị Q mang bầu cũng không quan tâm chăm sóc. Đến đầu tháng 02/2013 do vợ chồng cãi vã nhau và lúc đó chị Q sắp sinh con nên đã về nhà đẻ sống ly thân đến nay. Thực tế giữa khoảng cách giữa hai nhà chỉ vài trăm mét nhƣng từ đó đến nay anh N không thăm nom, chu cấp gì cho con chung và chị Q. Hai bên cũng đƣợc hai bên gia đình và bạn bè hòa giải động viên nhƣng nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị Q xin đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Thế N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013, hiện cháu L đang ở với chị Q và gia đình bố mẹ đẻ. Khi ly hôn nguyện vọng của chị Q muốn đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Khánh L và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dƣỡng nuôi con chung. Vì thực tế từ khi sinh con đến nay chị tự nuôi con một mình, anh N nhà ở cạnh bên nhƣng cũng chẳng thăm nom, chăm sóc, cấp dƣỡng gì.

Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh N không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị Q có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử.

Bị đơn anh Nguyễn Thế N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã xác minh hiện anh N sống một mình, không có ngƣời thân thích nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho Trƣởng khu dân cƣ và niêm yết theo quy định.

Chính quyền địa phƣơng khu dân cƣ BT, phƣờng H đều xác định: Chị Phùng Thị Q và anh Nguyễn Thế N có đăng ký kết và chung sống với nhau từ năm 2012, nhƣng chỉ đƣợc thời gian ngắn thì chị Q về nhà đẻ sống và sinh con. Hai bên nhà chỉ cách nhau vài trăm mét nhƣng không quan tâm chung sống cùng nhau nữa.

Ngƣời làm chứng bà Trần Thị H (là mẹ đẻ chị Phùng Thị Q, mẹ vợ anh Nguyễn Thế N) cung cấp: Chị Q và anh N là ngƣời cùng xóm với nhau, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng H ngày 28/3/2012 và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị Q về nhà anh N chung sống. Thực tế hai nhà chỉ cách nhau hơn trăm mét nên chị Q chạy đi chạy lại. Nhƣng sau đó đƣợc thời gian ngắn thì chị Q xin phép và về ở hẳn nhà tôi. Chị Q cho rằng tình cảm vợ chồng không có, anh N không quan tâm chăm sóc vợ. Chị Q về nhà tôi và sinh con từ đầu năm 2013 và sống ly thân với anh N từ đó đến nay. Việc ly hôn là quyền của anh N và chị Q. Quan điểm của những ngƣời làm cha mẹ nhƣ chúng tôi luôn muốn các con đoàn tụ để các cháu đỡ khổ còn chị Q mà cƣơng quyết ly hôn thì tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng chị Q, anh N có 01 con chung là Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013. Hiện cháu L và chị Q đang ở với gia đình tôi tại KDC BT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Nếu chị Q nuôi con tôi và gia đình cam kết hỗ trợ để các cháu có chỗ ăn ở sinh hoạt đảm bảo. Thực tế chị Q và cháu L đã ở với gia đình tôi từ khi sinh ra ngày 07/02/2013 đến nay.

Tại Biên bản ghi lời khai của cháu Nguyễn Thị Khánh L ngày 05/6/2023, thể hiện: Cháu Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013, hiện nay đã học xong lớp 4 Trƣờng Tiểu học H. Cháu là con của bố Nguyễn Thế N và mẹ là Phùng Thị Q. Hiện nay cháu đang ở với mẹ và ông bà ngoại tại KDC BT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, không sống chung cùng nhau thì nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ là Phùng Thị Q và ông bà ngoại. Nguyện vọng của cháu là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc gì.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn chị Phùng Thị Q vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Thế N vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Q ly hôn anh Nguyễn Thế N; Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013 cho chị Phùng Thị Q đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác, anh N không phải cấp dƣỡng nuôi con và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở; Về tài sản, công sức, vay nợ chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc chị Phùng Thị Q chịu 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Bị đơn anh Nguyễn Thế N đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại khu dân cƣ BT, phƣờng H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.

Bị đơn anh Nguyễn Thế N có mặt tại nơi cƣ trú, mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn chị Phùng Thị Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Q và anh Nguyễn Thế N, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND phƣờng H ngày 28/3/2012 và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.

Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Q và anh N thấy rằng: Từ khi kết hôn năm 2012, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đƣợc khoảng 01 năm đã nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến đầu năm 2013 khi đang mang thai con chung thì chị Q đã chuyển về nhà đẻ ở sống ly thân đến nay. Tuy nhà anh N và nhà chị Q cùng khu dân cƣ và chỉ cách nhau vài trăm mét nhƣng anh N không quan tâm chăm sóc, không tìm đón mẹ con chị Q về đoàn tụ. Quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh N tuy vẫn duy trì về mặt pháp lý nhƣng thực tế không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Phùng Thị Q xin ly hôn với anh Nguyễn Thế N.

Về con chung: Xác định cháu Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013 là con chung của chị Phùng Thị Q và anh Nguyễn Thế N, hiện cháu L đang sống ổn định cùng chị Q và gia đình bên ngoại. Khi ly hôn nguyện vọng của chị Q đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dƣỡng nuôi con chung cùng chị; anh Nguyễn Thế N vắng mặt, không có quan điểm; cháu Nguyễn Thị Khánh L có nguyện vọng muốn ở cùng chị Q. Vì vậy, cần giao cho chị Q tiếp tục nuôi dƣỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Nguyễn Thế N không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị Q không yêu cầu và anh N đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở là phù hợp thực tế phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Phùng Thị Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Q ly hôn anh Nguyễn Thế N.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Khánh L- sinh ngày 07/02/2013 cho chị Phùng Thị Q đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác, anh N không phải cấp dƣỡng nuôi con và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở.

3. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Phùng Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003852, ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị Q đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ