- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị G yêu cầu ly hôn với anh Đặng Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G đối với anh Đặng Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 6 – 2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Thật
2. Ông Nguyễn Quốc Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969; cư trú tại: Số 127, đường XYZ, khu vực A, Phường B, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn G, sinh năm 1969; cư trú tại: Ấp M, xã VĐ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn L tự nguyện kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn theo định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 1993 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên thường xuyên cự cãi, không tìm được sự đồng cảm trong cuộc sống hôn nhân dẫn đến đời sống chung không hạnh phúc. Chị cũng đã tạo điều kiện để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành, đã không còn sống chung với nhau từ tháng 9 năm 1993 đến nay. Vì vậy, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Văn L.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Đặng Thị Thúy N (giới tính: nữ), sinh ngày 27/02/1993; đã trưởng thành, có cuộc sống riêng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đặng Văn L trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị G tự nguyện kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được; đã không còn chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị G.
Về con chung: Anh và chị G có 01 con chung là Đặng Thị Thúy N (giới tính: nữ), sinh ngày 27/02/1993; đã trưởng thành, có cuộc sống riêng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh Đặng Văn L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
. Chị Nguyễn Thị G và anh Đặng Văn L tự nguyện kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
. Bị đơn anh Đặng Văn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị G và anh Đặng Văn L tự nguyện kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh L.
Chị G và anh L trình bày thống nhất do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên giữa anh chị thường hay cự cãi dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hai bên đã tìm cách hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành, hiện tình cảm vợ chồng không còn và không thể sống chung với nhau được nữa. Căn cứ lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị G và anh L thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, cho ly hôn giữa chị G và anh L.
. Về con chung: Quá trình chung sống, chị G và anh L có 01 con chung là Đặng Thị Thúy N (giới tính: nữ), sinh ngày 27/02/1993. Con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng, chị G và anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị G và anh L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G đối với anh Đặng Văn L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị G và anh Đặng Văn L.
2. Về con chung: Con đã trưởng thành có cuộc sống riêng, chị Nguyễn Thị G và anh Đặng Văn L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị G và anh Đặng Văn L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006887 lập ngày 29/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Long Mỹ; - Chi cục THADS huyện Long Mỹ; - UBND xã VĐ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Thừa |