- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn Anh Đào Quang T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 4 năm 2023 “V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh –Ông Phan Văn Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:107/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13/4/2023 và Quyết định Hoàn phiên tòa số 15/2023/QĐ-HPT, ngày 26/4/2023, giữa các đương sự.
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh ngày 12/11/1999.
Địa chỉ thường trú: Xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
-Bị đơn: Anh Đào Quang T, sinh ngày 16/7/1983.
Địa chỉ thường trú: xóm 4, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai của nguyên đơn, ý kiến của nguyên đơn được ghi trong biên bản hòa giải, trình bày của bị đơn anh Đào Quang T tại bản tự khai, ý kiến ghi trong biên bản hòa giải thì vụ án có nội dung.
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Vân A và Anh Đào Quang T tìm hiểu nhau một thời gian, sau đó anh chị quyết định xây dựng hôn nhân, nhưng không tổ chức cưới hỏi cưới theo phong tục tập quán. Chị Nguyễn Thị Vân A, và anh Đào Quang T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/03/2022. Sau khi kết hôn thì đến tháng 11/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt, không tìm được tiếng nói, lối đi chung trong hôn nhân, nên vợ chồng thường xuyên có những hành động, lời nói thiếu tôn trọng nhau, anh T có đánh đập vợ một vài lần, nhưng theo anh T là để dạy bảo vợ chứ không có ý gì khác. Do nguyên nhân mâu thuẫn nêu trên đã làm mất tình cảm vợ chồng, hôn nhân đổ vỡ. Sau khi phát sinh mâu thuẫn thì vợ chồng đã tự hòa giải nhưng tình cảm cũng không được cải thiện, ngược lại mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn trầm trọng đã làm cho không khí trong cuộc sống chung của vợ chồng lúc nào cũng nặng nề gây khó chịu cho nhau, nên vợ chồng sống ly thân cắt đứt các quan hệ, sinh hoạt từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Vân A, Anh Đào Quang T xác định hôn nhân đã đổ vỡ, dù có hòa giải đến đâu thì vợ cũng thể đoàn tụ, nên Chị Nguyễn Thị Vân A và Anh Đào Quang T đã thống nhất thuận tình ly hôn.
-Về quan hệ con chung: Vợ chồng có con 01 con chung cháu Đào Nhã U (Giới tính :nữ), sinh ngày 24 /03/2022. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do Chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nuôi dưỡng, Anh T đi lại thăm nom chăm sóc con chung bình thường. Quá trình hòa giải chị các bên đã thỏa thuận giao con chung cho Chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Vân A không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Vân A, anh Đào Quang T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã lập biên bản ghi nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự vào ngày 22/3/2023 đến ngày 24/3/2023 thì anh Đào Quang T đã thay đổi ý kiến không thống nhất ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Vân A, anh đề nghị giao con chung cho anh nuôi vì chị Nguyễn Thị Vân A gây khó dễ cho anh trong việc đi lại thăm nom chăm sóc con chung. Anh đề nghị Tòa xem xét buộc Chị Nguyễn Thị Vân A trả số tiền anh đã đầu tư vào xây dựng nhà riêng của Chị Nguyễn Thị Vân A. Sau khi anh T thay đổi ý kiến, Tòa án đã gửi thông báo thay đổi ý kiến cho chị Nguyễn Thị Vân A, chị Nguyễn Thị Vân A đã gửi đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì chị hiện nay đang đi làm ăn xa, vướng bận vào việc nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú ở huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Anh Đào Quang T vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn tiếp tục đề nghị xét xử vằng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân A và bị đơn anh Đào Quang T.
Nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Vân A, anh Đào Quang T đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chị Vân A, Anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/03/2022 nên xác định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Vân A và anh Đào Quang T là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Vân A, anh Đào Quang T tan rã, đổ vỡ là do quá trình sống chung vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt, không tìm được tiếng nói, lối đi chung hôn nhân. Thời gian sống ly thân anh T đã liên lạc hòa giải với chị Nguyễn Thị Vân A để đoàn tụ, nhưng không thành. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Vân A và anh Đào Quang T đã thực sự tan rã, đổ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm không còn. Chị Nguyễn Thị Vân A yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Quang T là có cơ sở đúng pháp luật, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn Anh Đào Quang T.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung, mới trên 01 năm tuổi chung hiện nay đang được chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, độ tuổi đang cần sự chăm sóc chăm bẳm của người mẹ, nên chị Nguyễn Thị Vân A đề nghị giao con cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho con chung, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao con của chị Nguyễn Thị Vân A.
Sau khi thỏa thuận việ nuôi con, anh T có văn bản đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là trái với qui định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình, nên không chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của Anh T.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Vân A không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.
Do Anh T không có quyền trực tiếp nuôi dương con chung, nên cần tuyên quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung cho Anh Đào Quang T.
- Về quan hệ tài sản: Quá trình mở phiên họp, hòa giải Chị Nguyễn Thị Vân A, anh Đào Quang T không yêu cầu tòa giải quyết. Việc Anh T đề nghị Tòa án xem xét số tiền anh đầu tư vào việc xây dựng tài sản riêng cho Chị Nguyễn Thị Vân A sau khi Tòa án mở phiên họp, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Anh T có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác nếu tháy cần thiết.
- Về án phí: Buộc Chị Nguyễn Thị Vân A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn Anh Đào Quang T.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Đào Nhã U(Giới tính :nữ), sinh ngày 24 /03/2022 cho chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đào Quang T cho đến lúc có yêu cầu.
Anh Đào Quang T không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Buộc: Chị Nguyễn Thị Vân A nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền án phí ly hôn sơ thẩm của Chị Nguyễn Thị Vân A được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số:0000662 ngày 24/02/2023,Chị Nguyễn Thị Vân A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
4.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã H, UBND xã Đ, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của nguyên đơn, bị đơn.
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự, - VKSND H. Yên Thành. - CC THA DS H. Yên Thành. - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Lưu HSVA - UBND xã H(Nơi ĐKKH). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Anh Ngọc |