vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị K được ly hôn với ông Dương Văn L.

Về con chung: Giao cháu Dương Thúy D, sinh ngày 31/8/2015 cho bà Phạm Thị K tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Dương Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Dương Thúy D mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Phạm Thị K chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 02/11/2022…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Phạm Thị K được ly hôn với ông Dương Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 7 - 2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Việt Bắc

Ông Lâm Hữu Đoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 361/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp AH, thị trấn AP, huyện AP, tỉnh An Giang.

Tạm trú: Ấp LT, xã VP, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp A, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ly hôn ngày 02/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Dương Văn L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã KT, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp và không tôn trọng với nhau, chung sống không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Thúy D, sinh ngày 31/8/2015. Hiện tại bà đang nuôi dưỡng cháu D. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Dương Văn L vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Phạm Thị K có đơn xin vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông L và bà K.

[2] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị K và ông Dương Văn L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã KT, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (đăng ký kết theo nơi cư trú trước đây của ông L). Quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông L được xác lập hợp pháp, thể hiện là hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống giữa bà K và ông L có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không tôn trọng với nhau, chung sống không có hạnh phúc nên hai người đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay là thực tế có xảy ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay với thời gian dài mà hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hai bên hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông L không tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà K. Hiện tại quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho hai người ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà K khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông L là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà K và ông L có 01 con chung tên Dương Thúy D, sinh ngày 31/8/2015. Cháu D chưa thành niên, bà K đang nuôi cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, cuộc sống của cháu đã ổn định, đồng thời cháu D cũng có nguyện vọng được chung sống với mẹ là bà K. Do đó, giao cháu D cho bà K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu D mà không ai được cản trở. Bà K không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xét.

[4] Về tài sản chung: Bà K xác định giữa bà và ông L không có tài sản chung, không ai yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Bà K chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 02/11/2022, bà K nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí. Ông L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị K được ly hôn với ông Dương Văn L.

Về con chung: Giao cháu Dương Thúy D, sinh ngày 31/8/2015 cho bà Phạm Thị K tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Dương Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Dương Thúy D mà không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Phạm Thị K chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 02/11/2022, bà Phạm Thị K nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010789 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Phạm Thị K và ông Dương Văn L vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ