vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Diệu M.

Về con chung: chị Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021. Anh Nguyễn Diệu M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng/cháu (02 con mỗi tháng là 1.490.000 đồng) cho đến khi các con chung trưởng thành (tròn 18 tuổi).… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Diệu M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 08/03/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Quyến

2. Ông Phan Công Điện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Ngày 08 tháng 03 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 717/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1996; Địa chỉ: ấp Thành V, xã Tân P, huyện P, tỉnh H (vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Diệu M, sinh năm: 1989; Địa chỉ: ấp Thành V, xã Tân P, huyện P, tỉnh H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 27/10/2022, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị T và anh Nguyễn Diệu M làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2013, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T và anh M thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm sống, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Vợ chồng cũng đã chính thức ly thân từ tháng 7/2022 đến nay và không hàn gắn đoàn tụ được.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung: Không có.

Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Diệu M; Về con chung: chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021 đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi), yêu cầu anh Nguyễn Diệu M cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Diệu M trình bày:

Anh M thừa nhận về quan hệ hôn nhân; con chung và tài sản chung như chị Nguyễn Thị T trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn, do anh M và chị T thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến mất hạnh phúc gia đình và đã chính thức ly thân từ năm 2022.

Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Diệu M cũng thống nhất ly hôn; Về con chung: Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021 anh M đồng ý để chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và anh Mạnh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung: không yêu cầu; về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Diệu M làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2013, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn tin yêu nhau nên bất đồng quan điểm và vợ chồng không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc và chính thức ly thân đến nay, trong suốt quá trình ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án chị T vẫn kiên quyết ly hôn, anh M cũng thống nhất ly hôn. Xét thấy mâu thuẩn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh M.

Về con chung: Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021 chị Nguyễn Thị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, xét thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị T chăm sóc nuôi dưỡng con chu đáo; cháu T cũng có nguyện vọng được sống chung với chị T; riêng cháu L thì tại thời điểm xét xử cháu L chưa tròn 36 tháng tuổi và anh M cũng không tranh chấp nuôi con. Vì vậy xét về điều kiện mọi mặt nhằm bảo đảm quyền lợi và môi trường sống cho các cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đối với việc chị T yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật là phù hợp, nên Hội đồng xét xử áp dụng 1/2 mức lương cơ bản do Nhà nước quy định là 745.000 đồng, để buộc anh M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng/cháu cho đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi), theo phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh M, không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung: Đương sự không ai yêu cầu, nên không đề cập giải quyết

Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Diệu M.

Về con chung: chị Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 09/04/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày: 10/03/2021. Anh Nguyễn Diệu M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000 đồng/cháu (02 con mỗi tháng là 1.490.000 đồng) cho đến khi các con chung trưởng thành (tròn 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 8/3/2023. Dành quyền thăm nom và chăm sóc con chung cho anh M không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Diệu M có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung; Về nợ chung: Đương sự không ai yêu cầu và khai không có, nên không xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000684 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị T đã nộp đủ án phí phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án phí cấp dưỡng: anh Nguyễn Diệu M phải nộp 300.000 đồng

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ