vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Q.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Q. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Hoàng Q được quyền trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 17/11/2006 cho đến khi cháu Nguyễn Hoài N1 đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Mỹ N được quyền thăm nom con chung Nguyễn Hoài N1 k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ Nh 0 Nguyễn Hoàng Q (ly hôn)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-04-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Cơ;

Ông Huỳnh Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn T

- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số B ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 09 tháng 01 năm 2023 của bà Nguyễn Thị Mỹ N thể hiện:

Bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q tổ chức cưới năm 2003, đăng ký kết hôn ngày 02/5/2003 tại UBND xã Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến. Từ năm 2018 đến nay thì vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Q.

Về con chung: Bà N và ông Q có 02 người con chung là Nguyễn Hoài B, sinh ngày 18/3/2004 và Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 17/11/2016. Khi ly hôn con chung là Nguyễn Hoài B đã trưởng thành, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Nguyễn Hoài N1 có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, sống với bà N thì bà N nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Q: Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, nhưng ông Nguyễn Hoàng Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Toà án.

- Tại tờ tường trình đề ngày 14 tháng 3 năm 2023, con chung Nguyễn Hoài N1 trình bày: Trường hợp cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với cha là Nguyễn Hoàng Q.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; còn đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải.

Bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q đã được cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà N, ông Q vắng mặt. Bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Q vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử bà Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Q. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 17/11/2006 cho ông Nguyễn Hoàng Q được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi đến khi con chung Nguyễn Hoài N1 đủ 18 tuổi. Con chung Nguyễn Hoài B đã đủ 18 tuổi, bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng Q không có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét và đề nghị tuyên về án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà N, ông Q đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà N, ông Q vắng mặt. Bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Q vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q tự nguyện kết hôn, được UBND xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 02/5/2003 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà N và ông Q đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến và ông bà không còn sống chung với nhau từ năm 2018 đến nay, không hàn gắn được, cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà N và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ N.

Về con chung: Bà N và ông Q có 02 người con chung là Nguyễn Hoài B, sinh ngày 18/3/2004 và Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 17/11/2016. Hiện nay cháu N1 đang sống chung với ông Q, cháu N1 cũng có nguyện vọng sống với ông Q. Do đó, căn cứ vào nguyện vọng và nhằm để ổn định cuộc sống hiện tại của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung Nguyễn Hoài N1 cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp, đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của con chung Nguyễn Hoài N1. Con chung Nguyễn Hoài B đã đủ 18 tuổi, bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ N đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Q.

2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Hoàng Q được quyền trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 17/11/2006 cho đến khi cháu Nguyễn Hoài N1 đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Mỹ N được quyền thăm nom con chung Nguyễn Hoài N1 không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng Q không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Con chung Nguyễn Hoài B đã đủ 18 tuổi, bà Nguyễn Thị Mỹ N và ông Nguyễn Hoàng Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007360 ngày 15/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên. Bà Nguyễn Thị Mỹ N đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Về việc thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ