vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Quách Bình D. Về con chung: Giao con chung Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008 cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1024/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-5-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngẫu

Bà Trần Thị Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1024/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1981

Địa chỉ: 121/6, tổ 6, khu P, thị trấn L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Quách Bình D, sinh năm 1981

Địa chỉ: tổ 12, ấp B, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh D tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L2, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 04/11/2005.

Trong quá trình chung sống, chúng tôi nảy sinh những bất đồng trong quan điểm sống. Từ năm 2019 đến nay anh D đã xuống tóc quy y tại chùa Hương Hải Thiền Viện với pháp danh Sư Tịnh Kiến, tôi đã nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện nhưng anh D vẫn kiên quyết theo con đường tu học và đề nghị tôi làm thủ tục ly hôn.

Xét thấy tình cảm vợ chồng của tôi và anh D không còn và cũng hoàn thành ý nguyện tu học của anh D, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với anh D.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008. Ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Tại Bản tự khai đề ngày 13/3/2023, bị đơn ông Quách Bình D trình bày:

Năm 2005, tôi và chị H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L2, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 04/11/2005.

Sau một thời gian nghiên cứu phật học, tôi nhận ra chân lý của cuộc sống, nên vào năm 2019 tôi đã xuất gia tại chùa Hương Hải Thiền Viện với pháp danh Sư Tịnh Kiến. Đã rất nhiều lần tôi khuyên chị Đặng Thị H nên làm thủ tục ly hôn và xây dựng lại cuộc sống mới nhưng chị H không làm vì nhiều lý do. Nay chị H xin ly hôn thì tôi đồng ý ly hôn vì hiện tại giữa tôi và chị H không còn tình cảm vợ chồng.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008. Hiện tại tôi đã xuất gia nên tôi đồng ý để hai con chung cho chị H nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Quách Bình D.

+ Về con chung: Giao 02 con chung là Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008 cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn. Tạm thời ông Quách Bình D không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Đặng Thị H và bị đơn ông Quách Bình D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông D.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H và bị đơn ông Quách Bình D tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã L2, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 04/11/2005. Căn cứ Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định hôn nhân giữa bà Đặng Thị H và ông Quách Bình D là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với lý do tình trạng hôn nhân giữa bà và ông D là trầm trọng, ông D đã lên chùa xuất gia, quy y từ năm 2019; từ đó đến nay vợ chồng không sống chung. Bà H xác định không còn tình cảm với ông D và yêu cầu xin ly hôn với ông D.

Bị đơn ông Quách Bình D thừa nhận tình trạng hôn nhân của hai người theo như bà H trình bày, ông D đồng ý ly hôn với bà H.

Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, đã sống ly thân, không muốn hàn gắn đoàn tụ cũng như cả hai đều có nguyện vọng ly hôn.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H về việc xin ly hôn với ông Quách Bình D.

Về con chung:

Bà H và ông D có 02 con chung là Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008, hiện nay con chung đang do bà H nuôi dưỡng.

Bà H và ông D đã thống nhất ly hôn bà H là trực tiếp nuôi dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận giao con chung cho bà H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do không có yêu cầu, nên tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H và ông D trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà H và ông D xác định không có nợ chung. Nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Đặng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Quách Bình D.

2. Về con chung: Giao con chung Quách Khả M – sinh ngày 24/3/2007, Quách Thiên A1 – sinh ngày 23/12/2008 cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời ông Quách Bình D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Quách Bình D có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông D thực hiện quyền này.

Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đặng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà H đã nộp, theo Biên lai thu số 0006643 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà H phải chịu. Bà H đã nộp xong.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ