vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang - tiến"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 01/8/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thu Uyển và bà Võ Thị Thanh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hải – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Trần Băng T, sinh năm 1991, có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Thôn 06, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Thôn 06, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung tại đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn Chị Trần Băng T trình bày: Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã IaO, xã IA Grai, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/3/2013; việc kết hôn được dựa trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, lý do là không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong nhiều vấn đề của cuộc sống, anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với Anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chị T và anh T có 03 con chung gồm: Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 07/10/2013; cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 11/5/2016 hiện nay đang ở với anh T và Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 22/10/2018 hiện nay đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chi đến tuổi trưởng thành, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị T đồng ý giao cháu Y và cháu V cho anh T trực tiếp trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung: Không có. Ngày 13/7/2023 Chị Trần Băng T có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Theo lời khai của bị đơn, Anh Nguyễn Văn T có trong hồ sơ vụ án: Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã IaO, xã IA Grai, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/3/2013; việc kết hôn được dựa trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống hàng ngày, hay cải nhau nên chị T và anh T đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 đến nay vì vậy chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh T đồng ý. Về con chung: Chị T và anh T có 03 con chung gồm: Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 07/10/2013; Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 11/5/2016 hiện nay đang ở với anh T và Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 22/10/2018 hiện nay đang ở với chị T. Hiện nay cháu Chi đang ở với chị T nên anh T đồng ý giao cháu Chi cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành; anh T có nguyện vọng trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Y và cháu V đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngày 22/6/2023 Anh Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Băng T ly hôn với Anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 07/10/2013; cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 11/5/2016 cho Anh Nguyễn Văn T; giao con Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 22/10/2018 cho Chị Trần Băng T có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con sau khi ly hôn. Về tài sản chung: Không có nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Chị Trần Băng T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng: Thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Băng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn với Anh Nguyễn Văn T; Anh Nguyễn Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn 06, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; quan hệ pháp luật yêu cầu giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, đời sống hôn nhân giữa chị T và anh T thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và bất hòa, nguyên nhân là do cả hai không cùng quan điểm sống, hiện nay chị T và anh T không còn sống chung với nhau một thời gian dài, chị T có nguyện vọng được ly hôn với anh T, anh T thừa nhận có mâu thuẫn vợ chồng và đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị T ly hôn với anh T. [3]. Về con chung: Chị T có nguyện vọng nuôi con chung Nguyễn Linh Chi, anh T có nguyện vọng nuôi con chung Nguyễn Ngọc Như Y và Nguyễn Ngọc Tường V; ngoài ra nguyện vọng của cháu Y và cháu V muốn ở với anh T. Do đó, việc giao con chung Nguyễn Ngọc Như Y và Nguyễn Ngọc Tường V cho Anh Nguyễn Văn T; giao con chung Nguyễn Linh Chi cho Chị Trần Băng T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quy định của pháp luật, đúng nguyện vọng của con chung. Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết. [4]. Về tài sản chung: Không có nên không đề cập giải quyết. [5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song là có căn cứ nên chấp nhận. [6]. Về án phí: Chị Trần Băng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Băng T. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Băng T ly hôn Anh Nguyễn Văn T. 2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 07/10/2013 và Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 11/5/2016 cho Anh Nguyễn Văn T; giao con chung Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 22/10/2018 cho Chị Trần Băng T có trách nhiệm trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đển tuổi trưởng thành. Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Trần Băng T và Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con sau khi ly hôn. 3. Về tài sản: Không có. 4. Về án phí: Chị Trần Băng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0002351 ngày 12 tháng 6 năm 2023. 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc Tòa án niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ