vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị Thị Thùy T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N. Về nuôi con: Giao 01 (một) con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 (như nguyện vọng của con) cho chị Lã Thị Thùy T được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PR
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ- ST
Ngày 06/12/2023
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PR, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khả T.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Công C;

2. Ông Nguyễn Ngọc B.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy N - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhất L– Kiểm sát viên. Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 190/2023/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 27 tháng 10 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Lã Thị Thùy T, sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện Chư Pr, tỉnh G. (Có mặt).

-Bị đơn: Anh Phan Văn N, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện Chư Pr, tỉnh G. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lã Thị Thùy T trình bày: Chị và anh Phan Văn N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Phìn, huyện Chư Pr, tỉnh G, ngày: 28/8/2012. Cuộc sống hôn nhân bước đầu hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh N là người ham chơi thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ, con, chị T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh N vẫn chứng nào tật nấy không thay đổi mà ngày một tệ bạc với chị thậm chí còn xúc phạm chị và có hành vi bạo lực gia đình nhiều lần đối với chị, hiện tại chị T và anh N đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2014 đến nay, chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn N; Về con chung: Chị và anh Phan Văn N có 01 con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 chị mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị Lã Thị Thùy T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn anh Phan Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Phan Văn N không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị Thùy T, anh N cũng không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr tham gia phiên tòa – bà Trần Thị Nhất Lcó ý kiến phát biểu như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đương sự, chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

+ Thành phần Hội đồng xét xử: Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều có mặt đầy đủ theo đúng thành phần, không có sự thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

+ Đối với các đương sự:

Nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lã Thị Thùy T và xử ly hôn giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N. Về con, đề nghị Hội đồng xét giao 01 con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 (như nguyện vọng của con) cho chị Lã Thị Thùy T tiếp tục, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Phan Văn N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn là chị Lã Thị Thùy T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lã Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh G giải quyết cho ly hôn với anh Phan Văn N, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Anh Phan Văn N có nơi cư trú tại: Thôn Hoàng Yên, xã Ia Phìn, huyện Chư Pr, tỉnh G, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh G. Anh Phan Văn N vắng mặt tại phiên toà, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ cho anh Phan Văn N lần thứ nhất nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Tòa án có quyết định hoãn phiên Tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ anh Phan Văn N lần thứ 2, nhưng anh N vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh N là phù hợp với điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Phìn, huyện Chư Pr, tỉnh G, ngày 28 tháng 8 năm 2012 hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Lã Thị Thùy T Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh N không có ý chí phấn đấu để xây dựng hạnh phúc gia đình, anh N cũng không quan tâm tới vợ con, hiện tại giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2014, nhận thấy anh Phan Văn N không có ý chí để hàn gắn và hòa giải, đồng thời thôn trưởng là ông Vũ Đình Chín xác nhận giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N hiện đã không còn chung sống để xây dựng hạnh phúc gia đình, bởi vậy đời sống chung của vợ chồng không được kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Lã Thị Thùy T xin ly hôn là có căn cứ, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lã Thị Thùy T là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N có 01 (một) con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 hiện con chung đang được chị T nuôi dưỡng trực tiếp, cháu Phan Gia Bảo khoẻ mạnh và học hành đầy đủ, tại biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 30 tháng 10 năm 2023 (bút lục số 66) cháu Bảo có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Lã Thị Thùy T, xét nguyện vọng của con chung là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng và chị T cũng có nguyện vọng tha thiết được nuôi dưỡng con chung, vậy nên giao 01 (một) con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 (như nguyện vọng của con) cho chị Lã Thị Thùy T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng trưc tiếp đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp.

Anh Phan Văn N có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của các cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về việc cấp dưỡng tiền nuôi con, chị Lã Thị Thùy T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn là chị Lã Thị Thùy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị Thị Thùy T.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lã Thị Thùy T và anh Phan Văn N.

2.Về nuôi con: Giao 01 (một) con chung tên là: Phan Gia Bảo, sinh ngày 05/8/2012 (như nguyện vọng của con) cho chị Lã Thị Thùy T được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lã Thị Thùy T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

4.Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lã Thị Thùy T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lã Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005166, ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pr, tỉnh G. Chị Lã Thị Thùy T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/12/2023, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Phan Văn N được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh G, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ