- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Ứng Cương
2. Ông Nguyễn Thành Thái
Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Toán – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh K, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Danh Mỹ D, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện Ch, tỉnh K.
* Bị đơn: Anh Danh Đơ Ra R, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: khu phố M, thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K.
( Anh Danh Đơ Ra R vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt )
NỘI D VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-3-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Danh Mỹ D trình bày: Vào năm 2007 chị D và anh Danh Đơ Ra R chung số vợ chồng với với nhau trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó giữa vợ chồng anh, chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hay bất đồng ý kiến với nhau do không cùng chung quan điểm sống, dù rằng gia đình hai bên đã dằn xếp nhưng bất thành. Từ đó dẫn đến không tìm được tiếng nói chung, sống không có hạnh phúc và hai bên đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2023 đến nay.
Nay chị D xét thấy tình cảm giữa chị và anh R đã hết, không thể hàn gắn lại được nữa, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Danh Đơ Ra R.
Trong thời gian chung sống, chị và anh R có 01 con chung tên Thị Kim T, sinh ngày 01/08/2008. Chị D yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung tên Thị Kim T, sinh ngày 01/08/2008, không yêu cầu anh R phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Danh Mỹ D có yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Danh Đơ Ra R.
- Về con chung: Chị D yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung tên Thị Kim T, sinh ngày 01/08/2008, không yêu cầu anh R phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 24- 4-2023;Biên bản hòa giải ngày 08-5-2023 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15-5-2023 bị đơn anh Danh Đơ Ra R trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Danh Mỹ D về hôn nhân, về nguyên nhân mâu thuẫn cũng như về con chung, về tài sản chung và nợ chung là đúng.
Nay chị Danh Mỹ D yêu cầu xin ly hôn thì anh có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân : Đồng ý ly hôn với chị Danh Mỹ D
- Về con chung: Đồng ý giao con tên Thị Kim T, sinh ngày 01/08/2008 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Danh Đơ Ra R vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 24-3-2023 chị Danh Mỹ D có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Danh Đơ Ra R. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Bị đơn anh Danh Đơ Ra R có đơn xin xét xử vắng mặt, tại phiên tòa nguyên đơn thống nhất xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R chung sống với nhau vào năm 2007, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân không hợp pháp, vì đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Do đó không công nhận chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R là vợ chồng, là phù hợp pháp luật.
Về con chung: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung tên Thị Kim T, sinh ngày 01-08-2008. Trong quá trình giải quyết vụ án chị D và anh R thống nhất thỏa thuận giao con cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy sự thỏa thuận này của chị D và anh R phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và cũng phù hợp theo nguyện vọng của con, nên HĐXX ghi nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích cho chị D về quyền yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật, nhưng chị D xác định không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con và việc chị D không yêu cầu anh R phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về nợ chung: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Danh Mỹ D là nguyên đơn do đó phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R.
2.Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R thống nhất giao con tên Thị Kim T, sinh ngày 01-8- 2008 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con
Anh Danh Đơ Ra R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về nợ chung: Chị Danh Mỹ D và anh Danh Đơ Ra R xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5.Về án phí: Chị Danh Mỹ D phải chịu T án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng chị D được khấu trừ vào số T tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005490, ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch, tỉnh K.
2. “ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
3. 6. Quyền kháng cáo: Chị Danh Mỹ D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Danh Đơ Ra R vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết. N¬i nhËn:
| - C¸c ® ¬ng sù; - TAND tØnh Kiªn Giang; - ViÖn KiÓm s¸t huyÖn Ch©u Thµnh; - Chi cục THADS huyện Châu Thành - L u hå s¬. | TM. Héi §ång XÐt Xö S¬ ThÈm THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lª ThÞ Thóy H»ng |