vanban.org

Bản án 47/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà Q.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông P giao cháu Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005 cho bà Q được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông P không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung: Không có nên không x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "phong quế"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà Q.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST
Ngày:10-5-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Thắm

2. Ông Võ Văn Cho

Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Dung – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông P, sinh năm 1973

Địa chỉ: Ấp M xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Bà Q, sinh năm 1974

Địa chỉ: Ấp T, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự có yêu cầu vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông P trình bày: Năm 1995, ông và bà Q tự quen biết rồi sống chung như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung nên đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy đời sống chung không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông P yêu cầu ly hôn với bà Q.

Về con chung: Có 02 con chung Trần Ngọc Hân, sinh năm 1996 và Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005. Sau khi ly hôn ông P đồng ý để cháu Hào cho vợ nuôi và ông không cấp dưỡng. Riêng cháu Hân đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn bà Q trình bày: Bà thống nhất về thời gian tiến đến kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà cũng đồng ý ly hôn với ông P.

Về con chung: Có 02 con chung Trần Ngọc Hân, sinh năm 1996 và Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005. Sau khi ly hôn bà yêu cầu nuôi cháu Hào và không yêu cầu ông P cấp dưỡng. Riêng cháu Hân đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt là phù hợp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn ông P và bà Lê Thị ThuQ. Về con chung: Giao Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005 cho bàQ tiếp tục nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chung: BàQ không yêu cầu nên ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ông P và bà Q sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Nay do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên ông P yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bàQ, do bàQ có nơi cư trú tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Xét về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ là có căn cứ pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Ông P và bà Q chung sống với nhau từ năm 1995, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn và đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tòa án đã phân tích, động viên để các bên trở về đoàn tụ và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các bên đều xác định đã ly thân từ năm 2021 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Việc ông P yêu cầu ly hôn phía bàQ cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà Q.

Về con chung: Ông P và bà Q cùng xác định có hai con chung Trần Ngọc Hân, sinh năm 1996 và Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005. Ông P thống nhất giao cháu Hào cho bàQ tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện giữa các đương sự. Cháu Hân đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung (cháu Hào): Bà Q không yêu cầu nên ông P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông P không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông P phải chịu 300.000đồng

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà Q.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông P giao cháu Trần Nhật Hào (nam), sinh ngày 17/6/2005 cho bà Q được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông P chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông P không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Ông P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp theo biên lai số 0002030 ngày 17/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (ông P đã nộp xong).

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật tại nơi cư trú.

7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ