- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn; Đâò Thị Như L Bị đơn: Anh Võ Chí H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đào Thị Như L được ly hôn anh Võ Chí H. Hôn nhân của chị Đào Thị Như L và anh Võ Chí H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 6 - 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu; Ông Trần Ngọc Tình
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 84/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 965/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1241/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đào Thị Như L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Anh Võ Chí H, sinh năm 1990; nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: thôn Trung H, xã Hải P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; hiện cư trú tại: 50 Kitchener Road London E17 4LL, England (Vương quốc Anh), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đào Thị Như L trình bày:
Chị và anh Võ Chí Hi có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 28/5/2013 tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn chị vẫn sinh sống tại nhà bố mẹ chị ở thị trấn N, huyện B để thuận tiện cho công việc của chị, còn anh H sống chùng gia đình bố mẹ anh. Trong quá trình sống chung vợ chồng cũng hay xảy ra mâu thuẩn. Đến năm 2019, vì cuộc sống kinh tế gia đình khó khăn, nên hai vợ chồng bàn bạc nhau để anh H đi xuất khẩu lao động sang nước ngoài làm ăn kiếm thêm thu nhập. Tháng 6/2019 anh Võ Chí H xuất cảnh qua Vương quốc Anh. Trong thời gian sống xa nhau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng ít liên lạc với nhau, mỗi lần liên lạc chỉ xảy ra cãi vã nhau. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thiếu sự tin tưởng nhau về tài chính kinh tế trong gia đình, dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng ngày càng căng thẳng, mỗi người ở một nơi nên thiếu sự thông cảm, chia sẽ. Qua một thời gian dài xa cách vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng, bỏ mặc nhau ai muốn làm gì thì làm, nên tình cảm vợ chồng không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được. Mặc dù, hai bên gia đình đã khuyên can và chị đã cố gắng nhường nhịn vì con cái để trở lại với nhau nhưng vẫn không thành. Hiện nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Chí H.
Về con chung: Chị Đào Thị Như L trình bày vợ chồng có 02 con chung Võ Ngọc Đoan Tr, sinh ngày 05/10/2014 và cháu Võ Minh Kh, sinh ngày 29/9/2016. Hiện nay, các cháu sinh sống cùng chị kể từ khi anh H đi làm ăn ở nước ngoài. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, vì hiện nay chị đang làm Công chức tại UBND thị trấn N, huyện B, với mức lương 7.500.000 đồng/tháng và còn có bà ngoại phụ giúp thêm, nên có đủ khả năng nuôi các con. Với lại, hiện nay anh H đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài, chưa biết khi nào về nước nên việc giao con cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng sẻ ảnh hưởng đến cuộc sống của các con. Vì vậy, chị yêu cầu anh Võ Chí H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 4.000.000 đồng/02 cháu. Sau khi anh H về nước, nếu anh yêu cầu thay đổi quyền nuôi con thì tùy anh lựa chon, chị không có ý kiến gì.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì. Vì vậy, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Võ Chí H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có Công văn số 2027/TAND-CV ngày 30/8/2022 (lần 1) và Công văn số 2582/TAND-CV ngày 07/11/2022 (lần 2) gửi cho Đại sứ quan Việt Nam tại Vương quốc Anh để tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với bị đơn anh Võ Chí H. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của anh H. Đồng thời, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thông báo qua kênh phát thanh dành cho người nước ngoài của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV5) thông báo cho anh Hiền 03 lần, trong 03 ngày liên tiếp về các nội dung liên quan đến việc chị Đào Thị Như L xin ly hôn anh Võ Chí H.
Tại bản tự khai ngày 05/01/2023 của bà Hoàng Thị Th (mẹ đẻ của anh H), nơi cư trú: Thôn Tr, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Bà Th xác nhận anh Võ Chí H và chị Đào Thị Như L tự nguyên đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND xã H, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Năm 2019 anh H xuất khẩu lao động tại nước Anh, hiện anh H đang làm việc và sinh sống tại nước Anh theo địa chỉ mà chị L cung cấp cho Tòa án. Thỉnh thoảng anh H có điện thoại về hỏi thăm gia đình, bà Th có trao đổi với anh H việc chị L làm đơn xin ly hôn anh H tại Tòa án tỉnh Quảng Bình và anh H cũng biết được, anh H cũng đồng ý ly hôn, nhưng do điều kiện anh không thể về để giải quyết ly hôn được, nên anh có ý kiến xin được giải quyết vắng mặt. Hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn gì bà không biết, hai vợ chồng ly hôn bà không có ý kiến gì, tùy vào quyết định của hai vợ chồng anh H, chị L. Vợ chồng anh H, chị L có 02 con chung cháu Võ Ngọc Đoan Tr và cháu Võ Minh Kh, khi anh H đi nước ngoài thì các cháu sống với mẹ, qua trao đổi điện thoại với anh H thì anh H đồng ý để hai con cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc nuôi con và tài sản chung do vợ chồng quyết định bà không có ý kiến.
Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 29/8/2022 của cháu Võ Ngọc Đoan Tr và cháu Võ Minh Kh, cả hai cháu trình bày hiện đang sống cùng mẹ và nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được sống cùng mẹ.
Tại phiên tòa chị Đào Thị Như L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Võ Chí H và xin được nuôi hai con chung. Anh Võ Chí H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị Đào Thị Như L được ly hôn anh Võ Chí H; về con chung: xử giao cháu Võ Ngọc Đoan Tr, sinh ngày 05/10/2014 và cháu Võ Minh Kh, sinh ngày 29/9/2016 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 3.000.000 đồng; về tài sản chung chị L không yêu cầu, nên không xem xét. Về án phí và chi phí tố tụng khác, chị L phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đương sự đã được thẩm tra, tranh tụng và ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: chị Đào Thị Như L có đơn yêu cầu xin ly hôn anh Võ Chí H đang làm ăn, sinh sống tại Vương Quốc Anh, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” có bị đơn là Công dân Việt Nam đang làm ăn, cư trú ở nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Võ Chí H bằng phương thức tống đạt đến cơ quan Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh để thu thập chứng cứ đối với bị đơn và đề nghị cơ quan Đại sứ quán tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại trụ sở và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh. Thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đài tiếng nói Việt Nam VOV5, gửi các văn bản tố tụng về gia đình của bị đơn anh Võ Chí H và thực hiện niêm yết văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú của bị đơn, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, theo quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng Tòa án không nhận được kết quả từ cơ quan có thẩm quyền và cũng không nhận được ý kiến của bị đơn Võ Chí H. Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 05/5/2023, nhưng bị đơn Võ Chí H vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Hiền tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Chí H theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Như L và anh Võ Chí H có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2013, tại giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển sổ số 01/2013 Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian sống chung vợ chồng cũng đã phát sinh một số mâu thuẩn, nhưng hai bên cũng đã bỏ qua nhưng mâu thuẫn để sống chung cùng nhau, nhưng do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên vợ chồng bàn bạc để anh Võ Chí H ra nước ngoài tìm kiếm việc làm, nhằm cải thiện thu nhập cho gia đình. Trong thời gian dài vợ chồng sống xa nhau, giữa vợ chồng đã không có sự quan tâm, chia sẽ thường xuyên, nên đã phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường nghi ngờ và thiếu tin tưởng về kinh tế, dẫn đến vợ chồng ít liên lạc cho nhau, mỗi lần liên lạc là xảy ra cãi vã, nhưng do hai bên ở xa nhau nên thiếu sự động viên, thông cảm, chia sẻ cho nhau, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng. Hiện tại, chị L thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, tình cảm không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau, nên chị kiên quyết xin được ly hôn anh H; còn anh H đã biết chị L làm đơn xin ly hôn anh tại Tòa án thông qua gia đình, đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định và thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đài tiếng nói Việt Nam VOV5 và niêm yết văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú của anh H và tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, nhưng anh đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Thể hiện anh không hề quan tâm gì đến gia đình vợ con, để mặc cho chị L muốn làm gì thì làm. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Như L xin được ly hôn anh Võ Chí H.
[3] Về quan hệ con chung: Xét ý kiến, yêu cầu của chị L và các con chung thấy. Hiện nay các con chung của vợ chồng đang sống cùng chị L, kể từ khi anh H sang làm ăn, sinh sống tại Vương Quốc Anh cho đến nay, nhưng anh H không gữi tiền về cho chị L để lo lắng cho gia đình và các con. Chị L hiện đang làm Công chức tại UBND thị trấn N, huyện B, với mức lương bình quân 7.500.000 đồng/tháng, nên việc chăm sóc nuôi dưỡng cho hai con chung bảo đảm các lợi ích tốt nhất là có phần vất vã, cho dù có bà ngoại hổ trợ thêm. Ngoài ra, các cháu sống và học tập cùng chị L đã ổn định và đều có nguyện vọng, mong muốn được sống cùng chị L, nếu bố mẹ ly hôn, nên chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 4.000.000 đồng; còn anh H hiện nay đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, chưa biết khi nào về nước, nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung được. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị L. Giao hai con chung cháu Võ Ngọc Đoan Tr, sinh ngày 05/10/2014 và cháu Võ Minh Kh, sinh ngày 29/9/2016 cho chị L được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và buộc anh H có nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 3.000.000 đồng, là phù hợp với ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến nguyện vọng, điều kiện thực tế của các bên và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về quan hệ tài sản chung: nguyên đơn chị Đào Thị Như L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng khác: Chị Đào Thị Như L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Chị Đào Thị Như L và anh Võ Chí H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định tại Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153; điểm d khoản 1 Điều 469, 474, 475, 477, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 121, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đào Thị Như L được ly hôn anh Võ Chí H. Hôn nhân của chị Đào Thị Như L và anh Võ Chí H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: giao các cháu Võ Ngọc Đoan Tr, sinh ngày 05/10/2014 và cháu Võ Minh Kh, sinh ngày 29/9/2016 cho chị Đào Thị Như L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Võ Chí H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 6/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và tiền cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị Như L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Lệ đã nộp tại biên lai số: 31AA/2021/0005027 ngày 22/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình. Chị L đã nộp đủ.
Anh Võ Chí H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về chi phí tố tụng khác: Chị Đào Thị Như L phải chịu 1.777.000 đồng (trong đó 277.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài và 1.500.000 đồng chi phí đăng thông tin trên Đài tiếng nói Việt Nam VOV5). Chị L đã nộp đủ và chi phí hết.
5. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai chị Đào Thị Như L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Võ Chí H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được nêm yết, tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - TANDCC Đà Nẵng; - UBND xã Hải Phú; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa DS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Dƣơng Viết Hải |