- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà T khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền vay gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày thụ lý vụ án 24/5/202…"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2023/DS-ST Ngày 25 - 4 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vân.
Ông Phan Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Hiệp Uyên T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khu phố X, Phường Y, thành phố T2, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khu phố Z, Phường X, thành phố T2, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 13/4/2022) (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp T2, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Quốc T3, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố N1, phường N, thành phố T2, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. (văn bản ủy quyền ngày 15/6/2022) (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn H1 trình bày: Bà Phan Hiệp Uyên T và ông Nguyễn Bá H có quen biết với nhau từ trước. Ngày 10/5/2019, ông H cần tiền để mua xe tải vận chuyển bỏ cà phê phục vụ cho công việc kinh doanh của ông H nên có vay của bà T số tiền là 200.000.000 đồng. Trong giấy nợ không có ghi ngày tháng trả và lãi suất nhưng có thỏa thuận miệng là 06 tháng trả gốc và tiền lãi là 3.000.000 đồng/1 tháng. Đến hạn thanh toán bà T nhiều lần đến nhà ông H đòi nợ, nhưng ông H không trả nợ gốc và nợ lãi cho bà Quế. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu buộc ông H trả số tiền 200.000.000 đồng và buộc ông H thanh toán phần lãi suất 20%/năm kể từ ngày 01/12/2019 cho đến ngày xét xử. Tại phiên tòa, ông H1 thay đổi yêu cầu khởi kiện: bà T khởi kiện yêu cầu buộc ông H trả số tiền vay gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày thụ lý vụ án 24/5/2022 cho đến ngày xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc T3 trình bày: Ông Nguyễn Bá H không có quen biết với bà Phan Hiệp Uyên T. Hiện bà T khởi kiện ông H là không đúng sự thật. Chữ ký và chữ viết là không phải của H. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H trả cho bà T số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày thụ lý vụ án 24/5/2022 cho đến ngày xét xử; về án phí, chi phí tố tụng khác: bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Quốc T3 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ vay tiền giữa bà T và ông H được xác lập vào ngày 10/5/2019, không có thời hạn trả nợ nên thời hiệu khởi kiện vụ án tính từ ngày 10/5/2019. Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết là 03 năm nên đến ngày 11/5/2022, thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết. Tuy nhiên, từ khi tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không có yêu cầu tòa án áp dụng thời hiệu nên vụ án không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà T khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền vay gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày thụ lý vụ án 24/5/2022 cho đến ngày xét xử. Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 10/5/2019 (bút lục 34), Kết luận giám định số 6163/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh (bút lục 65) và lời trình bày của ông H1, ông T3 thấy rằng: ông H có vay tiền của bà T, có làm giấy nợ do ông H viết và ký tên nhưng không thể hiện thời hạn vay, mục đích vay và không thể hiện lãi, ông H1 trình bày các bên có thỏa thuận miệng là 06 tháng trả gốc và tiền lãi là 3.000.000 đồng/1 tháng nhưng không có chứng cứ chứng minh nên đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Các bên giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi khởi kiện, bà T đã đòi ông H trả tiền nhưng ông H không trả, đến nay ông H cũng không trả nợ cho bà T nên ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay. Ông H1 yêu cầu tính lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng tính từ ngày thụ lý 24/5/2022 đến ngày xét xử là phù hợp khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Do đó, căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông H có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi trên số tiền vay gốc 200.000.000 đồng tính từ ngày 24/5/2022 đến ngày 25/4/2023 theo mức lãi suất 0,83%/tháng, cụ thể là: số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 11 tháng 01 ngày = 18.315.333 đồng. Vì vậy, ông H có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 218.315.333 (hai trăm mười tám triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng. [5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 218.315.333 x 5% = 10.915.767 (mười triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. [6] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự: Bà T đã nộp tạm ứng chi phí giám định là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, kết quả giám định chứng minh yêu cầu của bà T là có căn cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T nên ông H phải nộp số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí giám định tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để trả lại cho bà T. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 147, Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Hiệp Uyên T đối với ông Nguyễn Bá H. Buộc ông Nguyễn Bá H có nghĩa vụ trả cho bà Phan Hiệp Uyên T số tiền là 218.315.333 (hai trăm mười tám triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng, tiền lãi là 18.315.333 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Bá H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.915.767 (mười triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm sáu mươi bảy) đồng.
Bà Phan Hiệp Uyên T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo biên lai thu số 0017416 ngày 24/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
3. Về chi phí tố tụng khác:
Buộc ông Nguyễn Bá H phải nộp số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí giám định tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để trả lại cho bà Phan Hiệp Uyên T.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Hằng |