vanban.org

Bản án 47/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L).

Buộc bị đơn ông Quách Văn D có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) số tiền là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn D M có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Quách Văn D còn phải trả lãi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L).
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃVĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2023/DS-ST
Ngày 19/6/2023
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Trung Nghĩa.

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 180/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn D M, sinh năm 1985 (chủ hộ kinh doanh T L);

Địa chỉ: Số nhà X, khóm T N, phường K H, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Diễm M1, sinh năm 1996 (văn bản ủy quyền lập ngày 08/9/2022, có mặt).

Địa chỉ: Số nhà X, khóm T N, phường K H, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Quách Văn D, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Đ G, xã V T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 08/9/2022 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn D M trình bày:

Từ ngày 09/7/2018 đến ngày 25/4/2018 ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) có bán thức ăn nuôi tôm do Công ty Việt Hoa sản xuất và thuốc thủy sản với ông Quách Văn D. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm ông Quách Văn D không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như đã thỏa thuận. Vào ngày 17/8/2022 hai bên đối chiếu nợ, ông Quách Văn D còn nợ tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản của ông Nguyễn D M với số tiền là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Nay nguyên đơn ông Nguyễn D M yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn ông Quách Văn D phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Về lãi suất chậm trả ông Nguyễn D M không có yêu cầu.

Đối với bị đơn ông Quách Văn D:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp để kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đối với ông Quách Văn D nhưng ông D vắng mặt và không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án có thông báo kết quả mở phiên họp cho ông Quách Văn D biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Quách Văn D phải có nghĩa vụ thanh toán nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm, thuốc thủy sản với số tiền là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án thụ lý giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn ông Quách Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) với ông Quách Văn D có giao kết hợp bằng lời nói về việc mua bán thức ăn nuôi tôm do Công ty Việt Hoa sản xuất và thuốc thủy sản. Hai bên thỏa thuận sau khi kết thúc vụ nuôi sẽ thanh toán nợ cho ông Nguyễn D M. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm ông Quách Văn D không thanh toán nợ đầy đủ cho ông Nguyễn D M như đã thỏa thuận. Tính đến ngày 17/8/2022 hai bên đối chiếu nợ thì ông Quách Văn D còn nợ tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản của ông Nguyễn D M với số tiền là 108.410.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Việc hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản giữa ông Nguyễn D M với ông Quách Văn D gồm có: Sổ giao nhận hàng, Bảng đối chiếu xác nhận nợ ngày 17/8/2022. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án ông Quách Văn D có nhận thông báo về thụ lý vụ án nhưng ông D không có ý kiến phản đối. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn ông Nguyễn D M không cần phải chứng minh.

Về lãi suất chậm trả: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn D M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào các Điều 430, 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L). Buộc bị đơn ông Quách Văn D phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) số tiền là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn D M được chấp nhận nên bị đơn ông Quách Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 146, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 288, 430, 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L).

Buộc bị đơn ông Quách Văn D có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) số tiền là 108.410.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn D M có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Quách Văn D còn phải trả lãi cho ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Quách Văn D phải chịu số tiền là 5.420.500 đồng (năm triệu bốn trăm hai mươi nghìn năn trăm đồng).

- Nguyên đơn ông Nguyễn D M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn D M (chủ hộ kinh doanh T L) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp với số tiền là 2.710.000 đồng (hai triệu bảy trăm mười nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004449 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ