- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91,101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HSST Ngày: 16 - 02 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Quang Lý;
- Bà Trần Thị Thu Hiền;
- Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký tòa án nhân dân quận T, thành phố H
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố H tham gia phiên toà: bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 144/2020/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2020/QĐXXST-HS ngày 28/01/2022 đối với bị cáo:
Đoàn Anh T; sinh ngày 23/8/2003; tại: Q B; Hộ khẩu thường trú: thôn P T, xã Đ H, huyện T H, tỉnh Q B; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đình V (chết) và bà Phạm Thị H; vợ, con: chưa; tiền án: không; tiền sự: không;
- Bị bắt tạm giữ: ngày 03/8/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP. H và có mặt tại phiên tòa.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Thúc Đoan – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước TP. H (có mặt).
- Người bị hại:
Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1997; trú tại: chung cư E số 2 đường N, phường S K, quận T, TP. H (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trương Đức T, sinh năm 1981 ; trú tại: 58 đường số 15, phường B H H, quận B, TP. H (Vắng mặt).
2. Anh Trương Đức Đ T , sinh năm 1982; trú tại: 58 đường số 15, phường B H H, quận B , TP. H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Anh T là đối tượng không nghề nghiệp, sống lang thang. Khoảng 19 giờ ngày 26/7/2021, T đi bộ từ công viên Gia Phú, quận T vào bãi giữ xe tầng hầm Block F, chung cư E số 02 đường N, phường S K, quận T để tìm chỗ ngủ. Đến khoảng 03 giờ ngày 27/7/2021, T thức dậy đi tìm đồ ăn thì phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số XXN4-86XX của anh Trương Đức T đang dựng ở mặt sau thang máy trong bãi xe tầng hầm Block F, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa xe nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe gắn máy trên. Lúc này, do sợ khi lấy xe máy ra không qua được chốt kiểm soát vé nên T đi bộ đến trạm kiểm soát giữ xe số 2 thấy nhân viên bảo vệ là anh Nguyễn Văn P đang ngủ gật và trên bàn có nhiều thẻ xe, T liền tiến đến chỗ anh P đang ngủ lấy trộm 01 thẻ xe. Sau đó T đi lại xe máy biển số XXN4-86XX bật công tắc, đề máy xe chạy ra trạm kiểm soát vé số 2, thấy anh P đang ngủ nên T đánh thức dậy và đưa thẻ xe trộm được cho anh P. Sau đó anh P cầm thẻ xe quẹt vào máy thì thấy không lên tín hiệu nên hỏi T gửi xe lúc mấy giờ thì T nói dối là gửi xe lúc khoảng 19 giờ ngày 26/7/2021. Lúc này, anh P nghĩ hệ thống kiểm tra bị lỗi nên tin tưởng T và lấy tiền giữ xe là 20.000 đồng rồi mở nút chắn cho T điều khiển xe ra ngoài qua đường cổng số 1 chung cư E. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy vừa chiếm đoạt được đi tìm nơi bán nhưng không bán được. Đến khoảng 03 giờ ngày 02/8/2021, T điều khiển xe gắn máy trên dựng ngoài chung cư E rồi đi bộ vào bãi xe tầng hầm chung cư để ngủ thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Văn P là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH Dịch vụ bảo vệ T L S G. Ngày 27/7/2021 anh P được phân công ca trực từ 03 giờ đến 07 giờ ngày 27/7/2021 tại trạm kiểm soát cổng số 2 chung cư E. Trong ca trực nếu bị mất xe thì anh P phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Anh T đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Theo kết luận định giá tài sản số 1718/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 08/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, kết luận 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số: XXN4-86XX trị giá 8.000.000 đồng.
Vật chứng:
- Thu giữ của Đoàn Anh T:
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số: XXN4-86XX, số khung: RLHJF18097Y55XXXX, số máy: JF18E - 5053XXX, là xe gắn máy Đoàn Anh T chiếm đoạt. Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Trương Đức T (thường trú: 81/43 đường số 15, phường B H H, quận B, TP. H) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với anh Đức T và anh T được biết xe gắn máy trên do anh Trương Đức T mua và nhờ em ruột là anh Trương Đức T đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho anh T.
+ 01 xâu chìa khóa bằng kim loại, trong đó có một chìa khóa xe máy biển số: XXN4-86XX phần nhựa màu đen của chìa khóa xe có in chữ “VUONG NIEM”, là xâu chìa khóa cắm trên xe gắn máy của anh T mà T đã chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T.
+ 01 áo khoác màu đen hiệu Limus Jeans; 01 áo thun màu đen hiệu Adidas; 01 quần tây dài màu đen hiệu Viettin; 01 đôi dép màu đen. T mang khi thực hiện hành vi phạm tội.
Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 131/PNK ngày 01/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
- Thu giữ của anh Nguyễn Đức T: 01 đĩa DVD hiệu Ahuang ghi nhận lại nội dung T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (kèm hồ sơ vụ án);
Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Văn P không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số: 155/CT-VKSQ.TP ngày 08 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. H đã truy tố bị cáo Đoàn Anh T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90,91,101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đoàn Anh T từ 09 tháng tù đến 01 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo T: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên do đó hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo gặp rất nhiều khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
- Bị cáo Đoàn Anh T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đoàn Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: do cần tiền tiêu xài để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên khoảng 03 giờ ngày 27/7/2021, Đoàn Anh T đã có hành vi lấy trộm 01 thẻ xe và 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade, biển số XXN4-86XX, trị giá 8.000.000 đồng của anh Trương Đức T dựng trong bãi xe tầng hầm Block F, chung cư E để dẫn ra trạm kiểm soát xe máy do anh Nguyễn Văn P đang trực bảo vệ. Anh P nhầm tưởng xe của Đoàn Anh T nên lấy tiền gửi xe 20.000 đồng. Sau đó, T đã chiếm đoạt chiếc xe nêu trên. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. H đã truy tố bị cáo Đoàn Anh T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 101 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình đã thu hồi chiếc xe và trao trả cho chủ sở hữu. Anh Trương Đức T và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Đoàn Anh T:
+ Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số: XXN4-86XX, số khung: RLHJF18097Y55XXXX, số máy: JF18E - 5053XXX, là xe gắn máy Đoàn Anh T chiếm đoạt. Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Trương Đức T (thường trú: 81/43 đường số 15, phường B H H, quận B , TP. H) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với anh Đức T và anh T được biết xe gắn máy trên do anh Trương Đức T mua và nhờ em ruột là anh Trương Đức T đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho anh T là phù hợp.
+ Đối với 01 xâu chìa khóa bằng kim loại, trong đó có một chìa khóa xe máy biển số: XXN4-86XX phần nhựa màu đen của chìa khóa xe có in chữ “VUONG NIEM”, là xâu chìa khóa cắm trên xe gắn máy của anh T mà T đã chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T là phù hợp.
+ Đối với 01 áo khoác màu đen hiệu Limus Jeans; 01 áo thun màu đen hiệu Adidas; 01 quần tây dài màu đen hiệu Viettin; 01 đôi dép màu đen. T mang khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 131/PNK ngày 01/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
- Thu giữ của anh Nguyễn Đức TT: 01 đĩa DVD hiệu Ahuang ghi nhận lại nội dung T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (kèm hồ sơ vụ án);
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
[1] Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91,101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2] Tuyên bố: bị cáo Đoàn Anh T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
[3] Xử phạt: bị cáo Đoàn Anh T 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/8/2021.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen hiệu Limus Jeans; 01 áo thun màu đen hiệu Adidas; 01 quần tây dài màu đen hiệu Viettin; 01 đôi dép màu đen.
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD hiệu Ahuang ghi nhận lại nội dung T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 131/PNK ngày 01/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[5] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đoàn Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Bị cáo Đoàn Anh T có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân TP. H. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - TAND TP.H; - VKSND Quận T; - THADS quận T; - Công an Quận T; - Công an TP.H; - Sở Tư pháp TP. H; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Đức Thành |